Báo cáo cho vay song phương là báo cáo tài chính trong đó ngân hàng trình bày chi tiết về các khoản cho vay được thực hiện trực tiếp giữa một tổ chức tín dụng duy nhất với một khách hàng vay duy nhất, không có sự tham gia của các bên cho vay khác hay tổ chức trung gian tài trợ. Đây là hình thức cấp tín dụng đơn giản nhất trong các loại hình cho vay, trong đó toàn bộ quyền và nghĩa vụ của bên cho vay thuộc về một ngân hàng duy nhất.
Trong báo cáo cho vay song phương, các thông tin thường được trình bày bao gồm: thông tin nhận diện của bên vay (họ tên, mã số khách hàng, địa chỉ), mục đích vay vốn, số tiền cho vay ban đầu và dư nợ hiện tại, lãi suất áp dụng, kỳ hạn vay, lịch trả nợ gốc và lãi, tình trạng nợ (nợ đúng hạn, nợ quá hạn, nợ xấu), giá trị tài sản bảo đảm và tỷ lệ cho vay trên tài sản bảo đảm (LTV), cũng như các khoản dự phòng rủi ro đã trích lập. Báo cáo này giúp ngân hàng theo dõi danh mục cho vay song phương, đánh giá mức độ tập trung tín dụng vào từng khách hàng, phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro và đảm bảo tuân thủ các giới hạn cấp tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Quy trình thẩm định cho vay song phương thường đơn giản hơn so với cho vay hợp vốn (syndicated loan) vì chỉ có một bên quyết định cho vay, do đó thời gian phê duyệt nhanh hơn và thủ tục pháp lý gọn nhẹ hơn.
Ví dụ thực tế trong ngân hàng Việt Nam, khi một doanh nghiệp FDI đăng ký vay 200 tỷ đồng để mở rộng nhà máy tại Bình Dương, ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) sẽ tự thẩm định và quyết định cho vay toàn bộ số tiền trên mà không cần mời các ngân hàng khác cùng tham gia. Khoản vay này sẽ được theo dõi và báo cáo riêng trong hệ thống báo cáo cho vay song phương của ngân hàng, thể hiện đầy đủ các chỉ tiêu về dư nợ, lãi suất, kỳ hạn và phân loại nợ. Tương tự, các khoản cho vay tiêu dùng, cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô cá nhân cũng là những ví dụ điển hình của cho vay song phương trong hoạt động ngân hàng bán lẻ. Các ngân hàng như Techcombank, VPBank, MB thường có những báo cáo chi tiết về danh mục cho vay song phương phân theo ngành nghề, khu vực địa lý và phân khúc khách hàng.
Về quy định pháp lý liên quan, hoạt động cho vay song phương của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024), Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 06/2023/TT-NHNN), Thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro. Ngoài ra, các báo cáo cho vay song phương còn phải tuân thủ quy định về giới hạn cấp tín dụng theo Điều 136, 137 Luật các Tổ chức tín dụng, đảm bảo không vượt quá 15% vốn tự có đối với một khách hàng và 25% đối với một khách hàng và người có liên quan (trừ một số trường hợp đặc biệt). Báo cáo này cũng là cơ sở để ngân hàng lập Báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và Thông tư 49/2014/TT-NHNN hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính đối với tổ chức tín dụng.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ cho vay song phương với cho vay hợp vốn (syndicated loan), cho vay thứ cấp (sub-participation) và cho vay qua tổ chức trung gian. Cho vay song phương có đặc điểm: chỉ một bên cho vay duy nhất, hợp đồng tín dụng đơn giản, thời gian phê duyệt nhanh, chi phí giao dịch thấp hơn nhưng lại có giới hạn về quy mô khoản vay do phải tuân thủ các tỷ lệ an toàn vốn. Trong các kỳ thi chứng chỉ nghiệp vụ như CCQT (Chứng chỉ Quản trị ngân hàng) hay CCKH (Chứng chỉ Kinh doanh chứng khoán), câu hỏi về báo cáo cho vay song phương thường xoay quanh cách phân loại nợ, cách trích lập dự phòng rủi ro và cách tính giới hạn cấp tín dụng. Ngoài ra, thí sinh cần nắm vững cách đọc và phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo như tỷ lệ nợ xấu, hệ số LTV, hiệu quả sinh lời từ hoạt động cho vay (NIM - Net Interest Margin) để có thể đánh giá chất lượng danh mục cho vay song phương của một ngân hàng.