Báo cáo khách hàng doanh nghiệp SME là một loại báo cáo nội bộ trong hệ thống ngân hàng thương mại, tổng hợp các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính liên quan đến phân khúc khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Enterprises). Đây là công cụ quản trị quan trọng giúp ban lãnh đạo ngân hàng theo dõi, đánh giá hiệu quả kinh doanh đối với nhóm khách hàng chiến lược này.
Theo thông lệ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, báo cáo này thường được lập định kỳ theo tháng, quý, sáu tháng hoặc năm tùy theo mục đích sử dụng và cấp quản lý. Nội dung báo cáo bao gồm các nhóm chỉ tiêu chính như: tổng dư nợ cho vay và cơ cấu dư nợ theo ngành nghề, khu vực địa lý, kỳ hạn; tổng huy động vốn từ nhóm khách hàng SME; số lượng khách hàng hiện hữu và khách hàng mới phát sinh trong kỳ; chất lượng tín dụng thể hiện qua các nhóm nợ theo Thông tư hướng dẫn phân loại nợ; tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn; doanh số thu nợ; thu nhập lãi và phí dịch vụ từ phân khúc SME. Bên cạnh đó, báo cáo còn bao gồm các chỉ tiêu so sánh với kỳ trước, với kế hoạch năm và với trung bình ngành nhằm giúp nhà quản lý nhận diện xu hướng và đưa ra quyết định kịp thời. Dữ liệu đầu vào của báo cáo được trích xuất từ core banking, hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM, hệ thống phân loại nợ và các báo cáo quản trị rủi ro, sau đó được phòng/ban nghiệp vụ tổng hợp và phân tích.
Trong thực tiễn, báo cáo khách hàng doanh nghiệp SME được ứng dụng rộng rãi trong nhiều hoạt động ngân hàng như xây dựng kế hoạch kinh doanh hằng năm, phân bổ nguồn vốn tín dụng, đánh giá hiệu quả chi nhánh và khối kinh doanh, cũng như phục vụ công tác kiểm tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Ví dụ, tại một ngân hàng thương mại cổ phần lớn tại Việt Nam, báo cáo SME quý 4/2024 cho thấy dư nợ cho vay phân khúc này đạt khoảng 180.000 tỷ đồng, chiếm trên 60% tổng dư nợ toàn ngân hàng, với hơn 25.000 khách hàng đang hoạt động và tỷ lệ nợ nhóm 2 trở lên được kiểm soát ở mức dưới 2,5%. Các ngân hàng cũng sử dụng báo cáo này để phát triển các sản phẩm chuyên biệt như cho vay theo chuỗi giá trị, bảo lãnh cho doanh nghiệp xuất khẩu, hoặc gói tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Về khung pháp lý liên quan, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam được quy định cụ thể tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ, trong đó phân loại doanh nghiệp theo quy mô lao động hằng năm và doanh thu hoặc tổng nguồn vốn. Ngoài ra, việc lập và sử dụng báo cáo quản trị rủi ro tín dụng nói chung còn tuân thủ Thông tư số 09/2024/TT-NHNN hướng dẫn phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (thay thế Thông tư 02/2023). Đối với báo cáo nội bộ phục vụ công tác quản trị, Thông tư số 13/2018/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống báo cáo kịp thời, đầy đủ và chính xác.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý báo cáo khách hàng doanh nghiệp SME không phải là báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán mà là báo cáo quản trị nội bộ, phục vụ cho việc ra quyết định của ban lãnh đạo. Khi gặp câu hỏi trong đề thi, thí sinh cần phân biệt rõ với các loại báo cáo khác như báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo rủi ro tín dụng, báo cáo tuân thủ Basel, báo cáo ALM. Một số chỉ tiêu trọng tâm cần nhớ gồm: dư nợ, huy động, số lượng khách hàng, tỷ lệ nợ xấu, doanh số giải ngân, thu nợ, thu nhập lãi thuần, và tỷ lệ cross-sell sản phẩm dịch vụ cho phân khúc SME.