Báo cáo quỹ dự trữ bổ sung vốn là một báo cáo tài chính trong hệ thống báo cáo nội bộ của tổ chức tín dụng, phản ánh chi tiết tình hình tăng, giảm và số dư của quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ trong kỳ báo cáo. Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ là quỹ được trích bắt buộc từ lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định, nhằm mục đích tăng cường năng lực tài chính và bổ sung vốn điều lệ cho tổ chức tín dụng.
Hàng năm, sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế và phân phối lợi nhuận, các tổ chức tín dụng có nghĩa vụ trích lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ với tỷ lệ 5% lợi nhuận sau thuế, cho đến khi tổng số dư quỹ này bằng vốn điều lệ của tổ chức. Quỹ này được hạch toán vào vốn tự có của tổ chức tín dụng, góp phần nâng cao hệ số an toàn vốn (CAR) theo chuẩn mực Basel II/III mà Việt Nam đang áp dụng. Khi cần thiết, tổ chức tín dụng có thể sử dụng quỹ để bổ sung vốn điều lệ hoặc bù đắp các khoản lỗ phát sinh trong hoạt động kinh doanh, tuy nhiên việc sử dụng phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước, Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị. Báo cáo quỹ dự trữ bổ sung vốn cung cấp thông tin minh bạch về nguồn trích, số trích trong kỳ, số sử dụng và số dư cuối kỳ của quỹ, là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý và cổ đông giám sát việc tuân thủ quy định pháp luật.
Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ phần như Vietcombank, BIDV, Techcombank hay MBBank đều phải lập báo cáo này trong hệ thống báo cáo tài chính nội bộ và báo cáo định kỳ gửi Ngân hàng Nhà nước. Ví dụ, một ngân hàng có vốn điều lệ 20.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế năm 2024 đạt 5.000 tỷ đồng sẽ phải trích 250 tỷ đồng vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ trong năm đó. Báo cáo cũng được sử dụng làm căn cứ để NHNN đánh giá mức độ tuân thủ các tỷ lệ an toàn vốn của tổ chức tín dụng trong quá trình thanh tra, giám sát định kỳ và đột xuất.
Báo cáo quỹ dự trữ bổ sung vốn được quy định tại Nghị định số 93/2017/NĐ-CP ngày 25/7/2017 của Chính phủ về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và quỹ tín dụng nhân dân. Theo Điều 5 của Nghị định này, tổ chức tín dụng phải trích 5% lợi nhuận sau thuế hàng năm để lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ cho đến khi quỹ này bằng vốn điều lệ. Bên cạnh đó, các Thông tư hướng dẫn của NHNN và hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) cũng quy định chi tiết về cách hạch toán, trình bày quỹ này trong Báo cáo tài chính và Báo cáo thường niên của tổ chức tín dụng.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ ba loại quỹ bắt buộc: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (5% lợi nhuận sau thuế, tối đa bằng vốn điều lệ), quỹ dự phòng tài chính (10% lợi nhuận sau thuế, tối đa 25% vốn điều lệ) và quỹ đầu tư phát triển. Lưu ý rằng quỹ dự trữ bổ sung vốn thuộc vốn tự có cấp 1 của tổ chức tín dụng, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN và các văn bản sửa đổi, bổ sung. Các câu hỏi thi thường tập trung vào tỷ lệ trích, mức tối đa, thời điểm trích và cách hạch toán quỹ này trong hệ thống vốn tự có.