Báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn là bộ báo cáo tài chính được lập bởi công ty mẹ (trong trường hợp ngân hàng là ngân hàng mẹ), phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của toàn bộ tập đoàn bao gồm ngân hàng mẹ, các ngân hàng con, công ty con và các đơn vị thành viên khác như thể là một đơn vị kinh tế duy nhất. Theo đó, các chỉ tiêu tài chính được tổng hợp theo từng dòng (line-by-line) sau khi đã loại trừ toàn bộ các giao dịch nội bộ, số dư nội bộ và lợi nhuận chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch giữa các đơn vị trong cùng tập đoàn.
Để lập được báo cáo tài chính hợp nhất, công ty mẹ phải thực hiện quy trình gồm nhiều bước cơ bản: thống nhất chính sách kế toán giữa các đơn vị thành viên theo cùng một chuẩn mực kế toán áp dụng tại công ty mẹ; quy đổi các báo cáo tài chính của các đơn vị hoạt động ở nước ngoài về cùng đơn vị tiền tệ báo cáo; xác định và đo lường lợi thế thương mại (goodwill) phát sinh từ việc đầu tư vào công ty con tại ngày mua; loại trừ hoàn toàn giá trị ghi sổ của khoản đầu tư của công ty mẹ vào công ty con với phần vốn chủ sở hữu của công ty mẹ trong công ty con, đồng thời loại trừ các khoản phải thu, phải trả, doanh thu, chi phí và các dòng tiền phát sinh từ giao dịch nội bộ. Phương pháp hợp nhất theo từng dòng (full consolidation) được áp dụng khi công ty mẹ có quyền kiểm soát công ty con, trong khi phương pháp vốn chủ sở hữu (equity method) được sử dụng đối với các công ty liên kết và liên doanh.
Trong thực tế ngân hàng Việt Nam, các tập đoàn ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank, MB Bank hay Techcombank đều lập báo cáo tài chính hợp nhất bao gồm cả ngân hàng mẹ và các công ty con như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các công ty fintech thành viên. Ví dụ, tập đoàn MBBank có các công ty con như Công ty Chứng khoán MB (MBS), Công ty Bảo hiểm MB Ageas (MIC), Công ty Quản lý quỹ MB Capital, khi lập báo cáo tài chính hợp nhất, toàn bộ tài sản, nợ phải trả, doanh thu và chi phí của các đơn vị này sẽ được cộng dồn theo từng dòng vào báo cáo của ngân hàng mẹ, sau đó loại bỏ các giao dịch mua bán chứng khoán, ủy thác đầu tư hay các khoản vay nội bộ để đảm bảo bức tranh tài chính phản ánh đúng bản chất kinh tế của cả tập đoàn. Điều này giúp cơ quan quản lý, cổ đông và các bên liên quan đánh giá được sức mạnh tài chính tổng thể và mức độ rủi ro tập trung của toàn bộ tập đoàn.
Về khung pháp lý, việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam được điều chỉnh bởi Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 25 – Báo cáo tài chính hợp nhất và Chuẩn mực kế toán số 08 – Công ty con và kế toán đầu tư vào công ty con. Đối với các tổ chức tín dụng, Thông tư số 49/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về tỷ lệ an toàn vốn và việc hợp nhất vốn trong tập đoàn ngân hàng cũng như Thông tư hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngoài ra, các ngân hàng niêm yết còn phải tuân thủ quy định về công bố thông tin theo Thông tư 96/2020/TT-BTC và các quy định về kiểm toán độc lập.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần nắm rõ sự khác biệt giữa báo cáo tài chính riêng (chỉ phản ánh ngân hàng mẹ) và báo cáo tài chính hợp nhất (phản ánh toàn tập đoàn), đồng thời hiểu rõ các khái niệm then chốt như quyền kiểm soát, tầm quan trọng (significance), lợi thế thương mại, lợi ích cổ đông không kiểm soát (NCI) và cách xử lý các giao dịch phát sinh trong nội bộ tập đoàn. Đây là nhóm câu hỏi thường xuyên xuất hiện trong các kỳ thi tuyển dụng vào vị trí kế toán, kiểm toán nội bộ, kiểm soát tuân thủ và phân tích tín dụng tại các ngân hàng thương mại.