Báo cáo thu nhập từ cổ tức (Dividend Income Report) là một báo cáo tài chính hoặc một chỉ tiêu chi tiết trong hệ thống báo cáo tài chính, phản ánh tổng hợp các khoản thu nhập mà doanh nghiệp, tổ chức tín dụng nhận được từ việc nắm giữ cổ phần, phần vốn góp tại các đơn vị khác. Đây là công cụ quan trọng giúp nhà quản trị, cơ quan quản lý và các bên liên quan theo dõi, đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư tài chính dài hạn vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết.
Theo nguyên tắc kế toán được thừa nhận, thu nhập cổ tức chỉ được ghi nhận khi quyền nhận cổ tức của nhà đầu tư được xác lập, tức là khi có Nghị quyết chính thức của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên về việc phân phối lợi nhuận. Báo cáo thu nhập từ cổ tức thường được lập định kỳ theo quý, sáu tháng hoặc cả năm tài chính, đồng thời là cơ sở để tính toán dòng tiền, xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và phân tích cơ cấu thu nhập của đơn vị. Đối với ngân hàng thương mại, đây là nguồn thu nhập ngoài lãi, góp phần đa dạng hóa doanh thu và giảm thiểu rủi ro tập trung vào hoạt động tín dụng. Trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu thì không ghi nhận vào báo cáo thu nhập mà chỉ làm tăng số lượng cổ phiếu nắm giữ, kèm theo ghi chú tăng vốn tương ứng.
Ví dụ, một ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam đầu tư góp vốn 200 tỷ đồng vào một công ty tài chính với tỷ lệ sở hữu 18%. Cuối năm tài chính, công ty tài chính này thông qua Nghị quyết chia cổ tức bằng tiền tỷ lệ 10%, ngân hàng sẽ ghi nhận khoản thu nhập cổ tức 18 tỷ đồng. Khoản thu nhập này được phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ở chỉ tiêu "Thu nhập từ góp vốn, đầu tư dài hạn" và đồng thời là một luồng tiền vào trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Nếu trong cùng kỳ ngân hàng còn nhận cổ tức từ hai công ty liên kết khác, toàn bộ các khoản sẽ được tổng hợp và trình bày tách biệt trong phần thuyết minh báo cáo tài chính, kèm theo thông tin về tỷ lệ sở hữu, số cổ phần nắm giữ và tỷ lệ cổ tức được chia.
Về cơ sở pháp lý, Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14 - Doanh thu và thu nhập khác quy định rõ thời điểm ghi nhận thu nhập cổ tức là khi quyền nhận cổ tức được xác lập. Chuẩn mực VAS 25 - Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con quy định việc loại trừ thu nhập cổ tức nhận từ công ty con khi lập báo cáo tài chính hợp nhất. Nghị định 93/2017/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng và Thông tư 49/2014/TT-NHNN hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính cũng yêu cầu các ngân hàng phải trình bày tách biệt và chi tiết khoản mục thu nhập từ hoạt động góp vốn, đầu tư dài hạn.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ ba nguồn thu nhập chính của ngân hàng thương mại: thu nhập lãi (từ cho vay, tiền gửi), thu nhập từ dịch vụ và thu nhập từ đầu tư góp vốn. Cần nhớ nguyên tắc ghi nhận: chỉ ghi nhận khi có quyết định phân phối lợi nhuận chính thức, không ghi nhận khi nhận cổ tức bằng cổ phiếu. Đặc biệt, khi lập báo cáo hợp nhất, phải loại trừ hoàn toàn thu nhập cổ tức từ công ty con để tránh tính trùng lặp và phản ánh đúng bản chất giao dịch nội bộ.