Báo cáo tín dụng tiêu dùng là một loại báo cáo tài chính nội bộ của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng, trình bày chi tiết tình hình dư nợ, chất lượng tín dụng và các chỉ tiêu rủi ro của danh mục cho vay tiêu dùng cá nhân. Báo cáo này được phân loại theo các phân khúc sản phẩm như cho vay mua nhà, mua xe ô tô, cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm, thấu chi thẻ và cầm cố đồ dùng. Đây là công cụ quản trị quan trọng giúp ban lãnh đạo, Hội đồng tín dụng và các bộ phận liên quan đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng, đồng thời là cơ sở để ra quyết định điều chỉnh chính sách tín dụng và quản trị rủi ro.
Báo cáo tín dụng tiêu dùng thường được lập theo định kỳ hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng hoặc hàng quý tùy theo mục đích sử dụng và quy mô của tổ chức tín dụng. Nội dung báo cáo bao gồm tổng dư nợ cho vay tiêu dùng, cơ cấu dư nợ theo phân khúc khách hàng, theo kỳ hạn, theo loại tài sản bảo đảm và theo khu vực địa lý. Bên cạnh đó, báo cáo còn thể hiện tỷ lệ nợ xấu (NPL) theo từng phân khúc, dư nợ quá hạn, các chỉ số sinh lời của danh mục như ROA, ROE, lãi suất bình quân và biên lãi ròng (NIM). Việc tổng hợp số liệu được thực hiện tự động từ hệ thống core banking, hệ thống quản lý rủi ro tín dụng và các hệ thống LOS (Loan Origination System), đảm bảo tính chính xác, kịp thời và khả năng truy nguyên của dữ liệu phục vụ phân tích xu hướng và ra quyết định.
Tại các ngân hàng thương mại cổ phần lớn ở Việt Nam như Techcombank, VPBank, MBBank hay ACB, báo cáo tín dụng tiêu dùng được sử dụng rộng rãi trong công tác quản trị danh mục và công bố thông tin. Ví dụ, một ngân hàng có thể lập báo cáo tín dụng tiêu dùng quý III/2024 với tổng dư nợ đạt 90.000 tỷ đồng, trong đó cho vay mua nhà chiếm 40%, cho vay mua xe chiếm 25%, cho vay tiêu dùng tín chấp chiếm 35%; tỷ lệ nợ xấu toàn danh mục ở mức 3,5%, trong đó phân khúc cho vay tín chấp có NPL cao nhất với 5,8%. Đây là thông tin quan trọng để Hội đồng tín dụng điều chỉnh hạn mức, chính sách lãi suất và tiêu chí chấm điểm khách hàng. Báo cáo này cũng là cơ sở phục vụ kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước.
Việc lập và sử dụng báo cáo tín dụng tiêu dùng tại các tổ chức tín dụng Việt Nam chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật quan trọng. Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng yêu cầu các TCT phải có hệ thống giám sát và báo cáo tình hình tín dụng định kỳ. Thông tư 11/2021/TT-NHNN hướng dẫn phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và Thông tư 01/2020/TT-NHNN (sửa đổi, bổ sung) quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ cũng yêu cầu các báo cáo chi tiết về chất lượng tín dụng. Ngoài ra, Thông tư 13/2018/TT-NHNN về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và Thông tư 17/2021/TT-NHNN về an toàn hoạt động ngân hàng cũng liên quan trực tiếp đến việc tổng hợp dữ liệu cho báo cáo này.
Đối với người ôn thi chứng chỉ nghiệp vụ ngân hàng như chứng chỉ CFO, CAM hay các chứng chỉ quản trị rủi ro, cần phân biệt rõ báo cáo tín dụng tiêu dùng (Consumer Credit Report) với Báo cáo tín dụng cá nhân do Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) cung cấp. Báo cáo tín dụng tiêu dùng là báo cáo nội bộ của tổ chức tín dụng về toàn bộ danh mục cho vay, mang tính tổng hợp và quản trị, trong khi báo cáo CIC là báo cáo về lịch sử tín dụng của một cá nhân cụ thể phục vụ thẩm định. Thí sinh cần nắm vững cách tính các chỉ tiêu quan trọng như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dư nợ trên vốn tự có, hệ số LDR, các nguyên tắc phân loại nợ theo 5 nhóm theo Thông tư 11/2021, cũng như cách đọc và phân tích xu hướng trên báo cáo để xử lý các tình huống case study trong đề thi.