Bảo lãnh phong tỏa tài khoản là hình thức bảo lãnh ngân hàng trong đó ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng bằng cách phong tỏa một phần hoặc toàn bộ số dư tiền gửi của khách hàng tại chính ngân hàng phát hành. Đây là loại bảo lãnh có đảm bảo bằng chính nguồn tiền của khách hàng, tạo cơ chế ràng buộc tài chính hai chiều giữa ngân hàng, khách hàng và bên nhận bảo lãnh.
Khi khách hàng có nhu cầu bảo lãnh, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng gửi một khoản tiền vào tài khoản hoặc chuyển một phần số dư hiện có sang trạng thái phong tỏa (đóng băng giao dịch). Số tiền phong tỏa tương ứng với giá trị bảo lãnh và không thể rút ra cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt hoặc bảo lãnh hết hiệu lực. Trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán trực tiếp từ số tiền đã phong tỏa mà không cần chờ quá trình xử lý tài sản phức tạp. Nhờ đó, ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng vì nguồn thanh toán đã được đảm bảo sẵn ngay từ đầu, đồng thời quy trình xử lý khi phát sinh sự kiện bảo lãnh cũng nhanh chóng và minh bạch hơn.
Tại Việt Nam, bảo lãnh phong tỏa tài khoản được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực đấu thầu, xây dựng và mua sắm công. Ví dụ, một nhà thầu tham gia đấu thầu gói xây dựng trị giá 10 tỷ đồng thường phải nộp bảo lãnh dự thầu khoảng 2% giá trị gói thầu (tức 200 triệu đồng). Thay vì phải vay tín dụng hay thế chấp tài sản khác, nhà thầu có thể yêu cầu ngân hàng phong tỏa 200 triệu trong tài khoản tiền gửi của mình để cấp thư bảo lãnh. Tương tự, bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh bảo hành công trình hay bảo lãnh hợp đồng cũng có thể thực hiện theo cơ chế phong tỏa này.
Về mặt pháp lý, hoạt động bảo lãnh nói chung và bảo lãnh phong tỏa tài khoản nói riêng được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 335 – 338 quy định về hợp đồng bảo lãnh), Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Thông tư hướng dẫn về nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng Nhà nước. Các quy định về phong tỏa tài khoản thanh toán còn tuân theo Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng phải xây dựng quy chế nội bộ rõ ràng về trình tự phong tỏa, giải tỏa và xử lý tài khoản phong tỏa phục vụ bảo lãnh.
Khi ôn thi ngân hàng, cần phân biệt bảo lãnh phong tỏa tài khoản với các biện pháp bảo đảm khác như thế chấp, cầm cố hay ký quỹ ngân hàng. Đặc điểm cốt lõi là tài sản đảm bảo vẫn thuộc quyền sở hữu của khách hàng nhưng bị tạm thời hạn chế giao dịch rút tiền, đồng thời quyền quyết định sử dụng thuộc về ngân hàng khi phát sinh sự kiện bảo lãnh. Thí sinh cần nắm vững trình tự phong tỏa, điều kiện giải tỏa, các trường hợp ngân hàng được quyền từ chối thanh toán, cũng như mối liên hệ giữa bảo lãnh phong tỏa với hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo hiểm. Lưu ý rằng đây không phải nghiệp vụ cho vay mà là nghiệp vụ bảo lãnh, do đó không phát sinh dư nợ tín dụng trên bảng cân đối.