Chấm dứt đơn phương hợp đồng bảo lãnh là gì?

Unilateral Termination of Guarantee Contract Pháp lý ~4 phút đọc

Chấm dứt đơn phương hợp đồng bảo lãnh là quyền của một bên trong hợp đồng bảo lãnh được phép đơn phương chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh mà không cần sự đồng ý của bên còn lại khi có căn cứ theo quy định pháp luật hoặc theo thỏa thuận trước đó giữa các bên. Đây là chế định pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên bảo lãnh trước những thay đổi bất lợi từ phía bên được bảo lãnh hoặc bên nhận bảo lãnh, đồng thời tạo cơ chế linh hoạt và công bằng trong quan hệ tín dụng - bảo lãnh ngân hàng.

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, chấm dứt đơn phương hợp đồng bảo lãnh phát sinh trong nhiều trường hợp cụ thể. Thứ nhất, khi bên bảo lãnh nhận thấy bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm các cam kết trong hợp đồng hoặc có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh có quyền thông báo bằng văn bản để chấm dứt nghĩa vụ sau một thời hạn hợp lý. Thứ hai, khi hợp đồng bảo lãnh có thỏa thuận điều khoản về quyền chấm dứt đơn phương và các điều kiện phát sinh đã được đáp ứng đầy đủ. Thứ ba, khi pháp luật quy định các trường hợp đặc biệt mà một bên được quyền đơn phương chấm dứt. Việc chấm dứt phải tuân thủ nguyên tắc thông báo trước bằng văn bản, đảm bảo thời hạn thông báo tối thiểu theo quy định pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng để các bên có thời gian chuẩn bị và thích ứng. Hiệu quả của việc chấm dứt đơn phương chỉ phát sinh khi thông báo đã được gửi đến bên liên quan theo đúng trình tự thủ tục, đồng thời nghĩa vụ bảo lãnh chỉ chấm dứt đối với các khoản nghĩa vụ phát sinh sau thời điểm chấm dứt có hiệu lực.

Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, chấm dứt đơn phương hợp đồng bảo lãnh được áp dụng phổ biến khi ngân hàng bảo lãnh phát hiện khách hàng - bên được bảo lãnh - không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng hoặc tình hình tài chính của bên được bảo lãnh xấu đi nghiêm trọng. Ví dụ, một ngân hàng thương mại cổ phần nhận bảo lãnh thanh toán cho một công ty xây dựng theo hợp đồng bảo lãnh với chủ đầu tư; khi phát hiện công ty này sử dụng vốn sai mục đích và không có khả năng hoàn thành công trình theo tiến độ cam kết, ngân hàng có thể gửi thông báo chấm dứt đơn phương hợp đồng bảo lãnh để giới hạn rủi ro phát sinh thêm. Ngược lại, bên nhận bảo lãnh (chủ nợ) cũng có quyền đơn phương chấm dứt nếu bên bảo lãnh không còn đủ năng lực tài chính để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Ngoài ra, trường hợp hợp đồng bảo lãnh hết hiệu lực theo thời hạn đã thỏa thuận, hoặc khi nghĩa vụ được bảo lãnh đã hoàn tất thanh toán thì bảo lãnh cũng tự chấm dứt mà không cần thủ tục đơn phương.

Về quy định pháp lý, chấm dứt đơn phương hợp đồng bảo lãnh được điều chỉnh chủ yếu bởi Bộ luật Dân sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), đặc biệt tại các điều 335, 336, 342 và 343 quy định về hợp đồng bảo lãnh, nghĩa vụ của bên bảo lãnh và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại còn phải tuân thủ Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động bảo lãnh ngân hàng, cùng các quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (sửa đổi, bổ sung) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong hoạt động bảo lãnh quốc tế, UCP 600 (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) và ISP98 (International Standby Practices) cũng là những tài liệu tham khảo quan trọng mà các ngân hàng Việt Nam áp dụng đối với bảo lãnh có yếu tố nước ngoài.

Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ giữa chấm dứt đơn phương hợp đồng bảo lãnh với hủy ngang bảo lãnh và với chấm dứt hợp đồng do thỏa thuận chung của các bên. Chấm dứt đơn phương chỉ cần một bên thực hiện khi đủ điều kiện luật định, nhưng vẫn phải đảm bảo thông báo bằng văn bản cho bên kia trước một khoảng thời gian hợp lý (thường là 30 ngày hoặc theo thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng). Đặc biệt, nghĩa vụ bảo lãnh chỉ chấm dứt đối với các khoản nợ phát sinh sau thời điểm thông báo có hiệu lực; các khoản đã phát sinh trước đó vẫn phải được bên bảo lãnh thực hiện đầy đủ - đây là điểm rất hay xuất hiện trong các kỳ thi nghiệp vụ ngân hàng và chứng chỉ chuyên môn.

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8

B

Bảo lãnh hết hiệu lực

Bảo lãnh

Thư bảo lãnh không còn giá trị pháp lý do hết thời hạn, đã hủy hoặc đã được giải trừ.

L

Luật Các tổ chức tín dụng

Pháp lý ngân hàng

Luật Các tổ chức tín dụng là đạo luật quan trọng của Việt Nam quy định về thành lập, tổ chức, hoạt đ...

N

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Pháp lý ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tên tiếng Anh: State Bank of Vietnam - SBV) là cơ quan ngang bộ thuộc C...

N

Ngân hàng thương mại

Pháp lý ngân hàng

Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luậ...

N

Ngân hàng thương mại cổ phần

Tổng quan ngân hàng

Ngân hàng thương mại cổ phần là loại hình ngân hàng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, tro...

S

Sử dụng vốn sai mục đích

Quản lý vốn

Hành vi ngân hàng sử dụng vốn điều lệ vào mục đích không đúng với đăng ký kinh doanh, vi phạm Luật c...

T

Thi nghiệp vụ ngân hàng

Tổng quan ngân hàng

Thi nghiệp vụ ngân hàng là hình thức kiểm tra, đánh giá năng lực chuyên môn của nhân sự trong lĩnh v...

Đ

Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Thuế & Pháp luật

Một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bên kia vi phạm nghiêm trọng theo Điều 428 Bộ luật Dân sự 2...