Chi phí phát hành vốn cổ phần là tổng các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi thực hiện phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn từ thị trường. Các chi phí này làm giảm số tiền thực tế doanh nghiệp thu được từ đợt phát hành, đồng thời làm tăng chi phí sử dụng vốn cổ phần hiệu dụng so với lý thuyết.
Chi phí phát hành vốn cổ phần bao gồm hai nhóm chính: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí trực tiếp gồm phí bảo lãnh phát hành (thường chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 2-5% giá trị phát hành), phí tư vấn pháp lý, phí kiểm toán, phí đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước, và chi phí in ấn chứng chỉ. Chi phí gián tiếp bao gồm chi phí quản lý nội bộ, chi phí cơ hội do ban lãnh đạo phải dành thời gian cho đợt phát hành, và ảnh hưởng của việc pha loãng giá cổ phiếu hiện hữu. Trong công thức tính toán, chi phí phát hành được ký hiệu là F (flotation cost), và chi phí vốn cổ phần hiệu dụng sẽ được tính bằng công thức ke = D1/[P0(1-F)] + g, cao hơn so với chi phí vốn cổ phần danh nghĩa ke = D1/P0 + g. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải phát hành nhiều cổ phiếu hơn hoặc chấp nhận mức chi phí vốn cao hơn để thu được cùng một lượng vốn thực tế.
Tại Việt Nam, khi các ngân hàng thương mại cổ phần như Vietcombank, Techcombank hay VPBank thực hiện tăng vốn điều lệ để đáp ứng tiêu chuẩn Basel II và Basel III, họ phải chịu toàn bộ chi phí phát hành này. Ví dụ, trong các đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng gần đây, các ngân hàng thường phải trả phí bảo lãnh cho công ty chứng khoán từ 1,5% đến 3,5% giá trị phát hành, cùng với các chi phí tư vấn pháp lý, tư vấn tài chính và phí nộp hồ sơ tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Những chi phí này tuy nhỏ so với tổng giá trị phát hành nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) của ngân hàng.
Theo quy định pháp lý, việc phát hành cổ phiếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam phải tuân thủ Luật Chứng khoán 2019, Nghị định 155/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành, Thông tư 118/2020/TT-BTC về chào bán chứng khoán ra công chúng, và Thông tư 22/2020/TT-NHNN quy định các giới hạn an toàn vốn. Ngoài ra, đối với ngân hàng thương mại, việc tăng vốn còn phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2024 và các thông tư hướng dẫn liên quan.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng chi phí phát hành vốn cổ phần thường bị bỏ qua trong các bài toán đơn giản nhưng lại rất quan trọng trong thực tế. Khi tính WACC, cần phân biệt rõ giữa chi phí vốn cổ phần danh nghĩa và chi phí vốn cổ phần hiệu dụng (có tính đến chi phí phát hành). Ngoài ra, chi phí phát hành vốn cổ phần thường cao hơn chi phí phát hành trái phiếu, đây là một trong những lý do khiến các ngân hàng ưu tiên huy động vốn qua kênh phát hành giấy tờ có giá hơn là tăng vốn cổ phần khi có thể.