Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposit - CD) là chứng từ có giá do tổ chức tín dụng phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn từ tổ chức, cá nhân, trong đó xác nhận cam kết trả lại gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định theo các điều khoản đã thỏa thuận khi phát hành. Đây là công cụ huy động vốn quan trọng trên thị trường tiền tệ Việt Nam, có tính pháp lý rõ ràng và được cơ quan quản lý nhà nước thừa nhận như một loại giấy tờ có giá hợp pháp.
Về mặt pháp lý, chứng chỉ tiền gửi mang đầy đủ đặc điểm của một chứng từ có giá theo quy định pháp luật, bao gồm tính chuyển nhượng được (trừ trường hợp ghi rõ không được chuyển nhượng trên chứng chỉ), tính thanh khoản và khả năng cầm cố, thế chấp theo quy định. Khi khách hàng mua chứng chỉ tiền gửi, ngân hàng phát hành sẽ giao chứng từ có ghi rõ mệnh giá, kỳ hạn, lãi suất, phương thức trả lãi, ngày phát hành, ngày đáo hạn và các thông tin cần thiết khác. Người sở hữu chứng chỉ tiền gửi có quyền nhận lại toàn bộ gốc và lãi khi đến hạn, đồng thời được phép chuyển nhượng, cầm cố tài sản này tại các tổ chức tín dụng khác theo quy định. Trường hợp chứng chỉ tiền gửi bị mất, bị hư hỏng hoặc bị đánh cắp, người sở hữu có quyền yêu cầu tổ chức phát hành xác nhận hoặc cấp lại theo thủ tục do ngân hàng quy định.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam hiện nay, các ngân hàng thương mại như Vietcombank, BIDV, VietinBank, Techcombank thường xuyên phát hành chứng chỉ tiền gửi với kỳ hạn từ 3 tháng đến 5 năm hoặc dài hơn, mệnh giá phổ biến từ 100 triệu đồng trở lên để phục vụ nhóm khách hàng doanh nghiệp và cá nhân có tiền nhàn rỗi lớn. Lãi suất chứng chỉ tiền gửi thường được niêm yết cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm có cùng kỳ hạn từ 0,3% đến 1%/năm, tùy thuộc vào kỳ hạn và quy mô phát hành. Nhiều doanh nghiệp sử dụng chứng chỉ tiền gửi làm tài sản đảm bảo để vay vốn tại chính ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng khác, thay vì phải thế chấp bất động sản hay máy móc thiết bị. Ngoài ra, chứng chỉ tiền gửi còn được dùng làm công cụ trong các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tiền tệ, góp phần tạo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Về cơ sở pháp lý, chứng chỉ tiền gửi được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tại các điều khoản về huy động vốn, Nghị định 94/2022/NĐ-CP ngày 07/11/2022 về việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng (thay thế Nghị định 65/2012/NĐ-CP), cùng các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về điều kiện, trình tự thủ tục phát hành chứng chỉ tiền gửi. Ngoài ra, các quy định về chứng từ có giá tại Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 358) cũng là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xác định tính hợp pháp và quyền sở hữu đối với loại chứng từ này.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ chứng chỉ tiền gửi với sổ tiết kiệm (tiền gửi có kỳ hạn thông thường), kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu ngân hàng. Chứng chỉ tiền gửi chỉ dành cho khách hàng có nhu cầu gửi tiền lớn và thường không có tính năng gửi thêm, rút trước hạn linh hoạt như sổ tiết kiệm. Khi trả lời câu hỏi pháp lý, cần nhấn mạnh rằng chứng chỉ tiền gửi thuộc loại chứng từ có giá theo Nghị định 94/2022/NĐ-CP và phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước trước khi phát hành. Nếu đề thi hỏi về kỳ hạn tối thiểu, cần nhớ rằng chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn tối thiểu 01 năm đối với phát hành ra công chúng và tối thiểu 06 tháng đối với phát hành không qua công chúng, một điểm hay xuất hiện trong đề thi cần ghi nhớ chính xác.