Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trong tố tụng ngân hàng là biện pháp pháp lý do cơ quan thi hành án dân sự hoặc tòa án áp dụng nhằm buộc bên có nghĩa vụ (thường là con nợ, bên bảo đảm, bên bảo lãnh) phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ, giao tài sản, chuyển giao quyền tài sản hoặc các nghĩa vụ khác đã được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ nợ, đặc biệt là các tổ chức tín dụng.
Cơ chế cưỡng chế thi hành được kích hoạt khi bên phải thi hành án tự nguyện không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo bản án trong thời hạn do luật định. Khi đó, bên được thi hành án (thường là ngân hàng, công ty tài chính) có quyền gửi đơn yêu cầu thi hành án đến Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Chấp hành viên sẽ ra quyết định thi hành án và áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: trừ tiền trong tài khoản ngân hàng, phong tỏa tài sản, kê biên tài sản (bất động sản, động sản, quyền tài sản) để bán đấu giá thanh toán nợ. Đối với khoản nợ có tài sản bảo đảm, ngân hàng có thể yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo phán quyết của tòa án mà không cần thông qua thủ tục thi hành án dân sự trong một số trường hợp. Trình tự, thủ tục cưỡng chế phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của cả bên có nghĩa vụ và bên được thi hành án.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, khi khách hàng vay vốn không trả nợ đúng hạn và ngân hàng đã khởi kiện thắng kiện nhưng con nợ không tự nguyện thi hành án, ngân hàng sẽ gửi đơn yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự cưỡng chế. Ví dụ, trường hợp khách hàng vay mua nhà tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) không trả nợ, tòa án tuyên buộc khách hàng phải thanh toán khoản nợ và giao căn nhà thế chấp để xử lý; khi khách hàng không tự nguyện thi hành, chấp hành viên sẽ ra quyết định cưỡng chế, kê biên và bán đấu giá căn nhà để thanh toán nghĩa vụ cho ngân hàng. Một ví dụ khác là trường hợp doanh nghiệp vay vốn tại Vietcombank, ngân hàng có thể yêu cầu cưỡng chế trừ tiền trong tài khoản của doanh nghiệp tại chính ngân hàng đó hoặc các ngân hàng khác.
Cơ sở pháp lý chính điều chỉnh hoạt động cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trong tố tụng ngân hàng bao gồm: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2022); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2024 thay thế Luật các TCTD 2010); Nghị định 33/2020/NĐ-CP quy định chi tiết về xử lý tài sản bảo đảm; Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Thi hành án dân sự. Ngoài ra, các quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong lĩnh vực này.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ giữa cưỡng chế thi hành nghĩa vụ theo bản án và xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận (không cần qua tòa án) quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị định 21/2021/NĐ-CP. Cần nắm vững các hình thức cưỡng chế (trừ tiền tài khoản, kê biên tài sản, cấm chuyển dịch tài sản, buộc giao tài sản, buộc thực hiện công việc nhất định) và thẩm quyền của các cơ quan thi hành án. Đặc biệt, khi trả lời câu hỏi tình huống, cần chú ý thứ tự ưu tiên thanh toán khi có nhiều nghĩa vụ cùng được cưỡng chế, thời hiệu yêu cầu thi hành án (5 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực), và quyền khiếu nại về thi hành án dân sự của các bên liên quan.