Doanh thu phi thuế là gì?
Doanh thu phi thuế (Non-Tax Revenue) là khái niệm trọng tâm trong hệ thống tài chính công, dùng để chỉ toàn bộ các khoản thu ngân sách nhà nước mà không bắt nguồn từ các sắc thuế trực thu (thuế thu nhập, thuế thu nhập cá nhân) hay thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu). Nói cách khác, đây là nguồn tiền mà chính phủ huy động được từ các hoạt động ngoài công cụ thuế, bao gồm phí hành chính, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, cổ tức và lợi nhuận từ vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, viện trợ không hoàn lại, thu từ xổ số kiến thiết, thu hồi vốn đầu tư công và nhiều khoản thu hợp pháp khác. Nhóm khoản thu này được quản lý tập trung tại hệ thống Kho bạc Nhà nước và thường niên kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước, đảm bảo tính minh bạch và khả năng giám sát của Quốc hội cũng như các cơ quan hữu quan.
Trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước Việt Nam, doanh thu phi thuế (Non-Tax Revenue) đóng vai trò là cấu phần bổ sung chiến lược, có tỷ trọng dao động từ 20% đến 25% tổng thu ngân sách hằng năm tùy theo chu kỳ kinh tế và chính sách tài khóa của từng giai đoạn. Sự tồn tại của nguồn thu này giúp giảm áp lực thuế lên nền kinh tế - một yếu tố quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang theo đuổi chiến lược giảm gánh nặng thuế (tax burden) để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, doanh thu phi thuế phản ánh hiệu quả quản lý tài sản công, năng lực khai thác các nguồn lực tài chính phi thuế của Nhà nước cũng như chất lượng đầu tư vốn nhà nước vào khu vực doanh nghiệp.
Về bản chất kinh tế, doanh thu phi thuế có ba đặc trưng cốt lõi. Thứ nhất, đây là khoản thu có thể mang tính đối ứng (ví dụ: phí dịch vụ công được thu khi người dân sử dụng dịch vụ) hoặc không mang tính đối ứng (ví dụ: viện trợ không hoàn lại, thu hồi vốn đầu tư). Thứ hai, nguồn thu này phụ thuộc chặt chẽ vào hoạt động quản lý, khai thác tài sản công và hiệu quả đầu tư vốn nhà nước - yếu tố khiến doanh thu phi thuế có tính biến động cao hơn so với thu thuế truyền thống. Thứ ba, về khung pháp lý, doanh thu phi thuế được quy định cụ thể trong Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 (Luật số 83/2015/QH13), Điều 4 và Điều 7, bên cạnh Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Luật Quản lý thuế 2019 và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính như Thông tư số 85/2019/TT-BTC.
Thuật ngữ tiếng Anh: Non-Tax Revenue Lĩnh vực: Thuế & Tài chính công
Đặc điểm và phân loại
Doanh thu phi thuế có thể được phân loại thành nhiều nhóm dựa trên tính chất pháp lý, nguồn gốc phát sinh và tính đối ứng của khoản thu. Dưới đây là bảng phân loại chi tiết:
Bảng phân loại doanh thu phi thuế theo nguồn gốc
| STT | Nhóm khoản thu | Đặc điểm chính | Ví dụ minh họa |
|---|---|---|---|
| 1 | Phí hành chính | Bù đắp chi phí dịch vụ công, có tính đối ứng, tỷ lệ điều tiết về ngân sách theo quy định | Phí cấp giấy phép lái xe, phí thẩm định hồ sơ, phí hành chính tư pháp |
| 2 | Lệ phí | Khoản thu mang tính pháp lý, không nhằm bù đắp chi phí | Lệ phí trước bạ, lệ phí đăng ký kinh doanh, lệ phí cấp sổ đỏ |
| 3 | Thu từ tài sản công | Thu từ quyền sử dụng, khai thác tài sản thuộc sở hữu nhà nước | Tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thu từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước |
| 4 | Thu từ vốn nhà nước đầu tư | Cổ tức, lợi nhuận sau thuế nộp về ngân sách | Cổ tức SCIC, lợi nhuận VNPT, PVN, EVN |
| 5 | Thu từ xổ số kiến thiết | Hoạt động kinh doanh xổ số do nhà nước độc quyền | Xổ số truyền thống miền Bắc - Trung - Nam, Vietlott |
| 6 | Viện trợ không hoàn lại | Hỗ trợ từ tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài | ODA không hoàn lại, viện trợ nhân đạo, hỗ trợ kỹ thuật |
| 7 | Thu hồi vốn đầu tư | Thu hồi vốn từ các dự án đầu tư công | Thu hồi vốn ODA có hoàn lại, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp |
| 8 | Các khoản thu khác | Thu từ phạt vi phạm, tịch thu, quỹ dự trữ tài chính | Tiền phạt vi phạm hành chính, tài sản tịch thu, thu từ tài sản công bị bỏ hoang |
Đặc điểm nhận biết doanh thu phi thuế
- Không phải thuế: Không bắt buộc theo các luật thuế, không có tính chất cưỡng chế tương tự thuế; không thuộc đối tượng quản lý của Luật Quản lý thuế theo nghĩa thu thuế truyền thống.
- Đa dạng nguồn thu: Bao gồm nhiều nhóm với tính chất pháp lý khác nhau, từ phí - lệ phí đến cổ tức, viện trợ.
- Biến động cao: Phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, thị trường bất động sản, lợi nhuận doanh nghiệp nhà nước, dòng vốn ODA.
- Tính đối ứng không đồng nhất: Có khoản đối ứng hoàn toàn (phí dịch vụ công), có khoản không đối ứng (viện trợ, thu hồi vốn).
- Phụ thuộc vào chính sách quản lý tài sản công: Hiệu quả khai thác tài nguyên, đất đai, doanh nghiệp nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô nguồn thu.
- Phân cấp quản lý chặt chẽ: Tuân thủ nguyên tắc phân cấp ngân sách - một số khoản thu 100% cho ngân sách trung ương, một số 100% cho ngân sách địa phương, một số phân chia theo tỷ lệ quy định.
Phân biệt phí và lệ phí - hai khái niệm dễ nhầm lẫn
| Tiêu chí | Phí (Fee) | Lệ phí (Charge) |
|---|---|---|
| Mục đích | Bù đáp một phần hoặc toàn bộ chi phí dịch vụ công | Tạo nguồn thu cho ngân sách, không nhằm bù đắp chi phí |
| Tính đối ứng | Có - gắn liền với việc cung ứng dịch vụ | Không có hoặc đối ứng yếu |
| Ví dụ | Phí cấp hộ chiếu, phí giám định | Lệ phí trước bạ, lệ phí cấp giấy chứng nhận đầu tư |
Ví dụ thực tế trong ngành ngân hàng
Mặc dù doanh thu phi thuế chủ yếu thuộc phạm vi quản lý tài chính công và hệ thống Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại lại đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc thu, nộp và quản lý dòng tiền của các khoản thu này vào ngân sách nhà nước. Dưới đây là ba ví dụ minh họa tiêu biểu:
Ví dụ 1: Thu phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện - kênh thanh toán ngân hàng
Theo quy định tại Nghị định số 56/2024/NĐ-CP, chủ phương tiện ô tô phải nộp phí sử dụng đường bộ hằng năm. Đây là khoản thu phi thuế điển hình mang tính đối ứng - tiền thu được dùng để bảo trì, nâng cấp hệ thống đường bộ quốc gia. Cụ thể, một chiếc ô tô 5 chỗ có dung tích xy-lanh dưới 2.000cc phải nộp phí khoảng 1.500.000 đồng/năm; ô tô tải dưới 7 tấn dao động từ 1.800.000 đến 4.200.000 đồng/năm tùy tải trọng. Với khoảng 5,5 triệu ô tô đang lưu hành tại Việt Nam tính đến cuối năm 2024, tổng số thu phí này ước tính đạt hơn 8.500 tỷ đồng mỗi năm. Ngân hàng A đã triển khai dịch vụ liên kết với Cổng thông tin điện tử của Bộ Giao thông Vận tải và các đơn vị đăng kiểm để chủ phương tiện thanh toán phí trực tiếp qua ứng dụng ngân hàng số, giúp giảm thời gian, chi phí giao dịch và nâng cao tỷ lệ thu đúng hạn lên trên 90%, đóng góp trực tiếp vào nguồn thu phi thuế của ngân sách.
Ví dụ 2: Cổ tức từ vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn đầu tư ngân hàng
Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) là đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp lớn, trong đó có các ngân hàng thương mại cổ phần như Ngân hàng B. Hằng năm, SCIC thu cổ tức và lợi nhuận từ các khoản đầu tư này để nộp về ngân sách nhà nước theo quy định. Ví dụ cụ thể: Giả sử SCIC sở hữu 15% vốn điều lệ tại Ngân hàng B (vốn điều lệ 20.000 tỷ đồng, tương đương 3.000 tỷ đồng giá trị vốn nhà nước). Nếu Ngân hàng B thực hiện chia cổ tức 18% bằng tiền mặt trong năm tài chính, SCIC sẽ thu về khoảng 540 tỷ đồng cổ tức - khoản doanh thu phi thuế rất quan trọng của ngân sách. Con số này phản ánh trực tiếp hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng và chiến lược thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Năm 2023, toàn hệ thống SCIC đã thu về hơn 8.200 tỷ đồng cổ tức và lợi nhuận từ doanh nghiệp, trong đó nhóm ngân hàng đóng góp khoảng 35% tổng giá trị.
Ví dụ 3: Phí dịch vụ thanh toán ngân sách qua hệ thống ngân hàng
Khi khách hàng cá nhân hoặc doanh nghiệp thực hiện các giao dịch liên quan đến ngân sách nhà nước tại Ngân hàng A - nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản giao dịch - ngân hàng này cung cấp dịch vụ thu hộ, chi hộ và thanh toán các khoản thu phi thuế theo biểu phí quy định của Bộ Tài chính. Ví dụ, phí chuyển tiền từ tài khoản kho bạc sang tài khoản đối tượng thụ hưởng khoảng 0,01% - 0,03% giá trị giao dịch, tối thiểu 10.000 đồng, tối đa không quá 5.000.000 đồng/lệnh. Với doanh số thanh toán ngân sách hằng năm qua hệ thống ngân hàng thương mại đạt hàng triệu tỷ đồng (trong đó riêng chi đầu tư công năm 2024 đạt khoảng 700.000 tỷ đồng), tổng phí dịch vụ mà ngân hàng thu được là nguồn thu đáng kể, đồng thời giúp giảm chi phí vận hành cho hệ thống kho bạc và đảm bảo dòng tiền minh bạch.
Ví dụ 4: Đấu giá quyền sử dụng đất - kênh thu phi thuế quan trọng của địa phương
Đấu giá quyền sử dụng đất là khoản thu phi thuế rất lớn, thuộc nhóm "thu từ tài sản công". Chỉ riêng tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, tổng thu từ đấu giá đất trong giai đoạn 2020 - 2023 đạt khoảng 220.000 tỷ đồng. Các ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian thanh toán: người trúng đấu giá chuyển tiền đặt cọc và thanh toán qua tài khoản ngân hàng, số tiền này được chuyển về tài khoản kho bạc theo quy định. Tại một phiên đấu giá lô đất tại huyện Bắc Từ Liêm (Hà Nội) năm 2024, giá trúng đấu giá đạt 280 triệu đồng/m² - mức kỷ lục từ trước đến nay, đóng góp hàng trăm tỷ đồng cho ngân sách thành phố chỉ trong một phiên.
Doanh thu phi thuế trong các ngôn ngữ khác
| Ngôn ngữ | Thuật ngữ | Phiên âm |
|---|---|---|
| Tiếng Anh | Non-Tax Revenue | /nɒn tæks ˈrɛvɪnjuː/ |
| Tiếng Nhật | 税外収入 (zeigai shūnyū) | zeigai shūnyū |
| Tiếng Hàn | 세외수입 (seo-oe su-ip) | seo-oe su-ip |
| Tiếng Trung | 非税收入 (fēi shuì shōurù) | fēi shuì shōurù |
| Tiếng Tây Ban Nha | Ingresos no tributarios | /iŋˈɡresos no tɾiβuˈtaɾjos/ |
Câu hỏi thường gặp
Doanh thu phi thuế khác gì thuế (Tax)?
Thuế là khoản thu bắt buộc, không mang tính đối ứng, được quy định cụ thể trong các luật thuế như Luật Thuế Thu nhập cá nhân, Luật Thuế Giá trị gia tăng, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp. Người nộp thuế không nhận lại bất kỳ dịch vụ cụ thể nào tương ứng với số thuế đã nộp. Trong khi đó, doanh thu phi thuế (Non-Tax Revenue) bao gồm phí, lệ phí, cổ tức, tiền thuê đất - các khoản thu không mang tính chất thuế truyền thống. Điểm khác biệt cốt lõi là tính đối ứng: phí dịch vụ công chỉ được thu khi người dân thực sự sử dụng dịch vụ do cơ quan nhà nước cung cấp (ví dụ: phí cấp hộ chiếu, phí thẩm định dự án), còn thuế thì không gắn liền với bất kỳ dịch vụ cụ thể nào. Ngoài ra, cơ quan quản lý cũng khác nhau: thuế do cơ quan thuế quản lý, còn doanh thu phi thuế do nhiều bộ, ngành và địa phương cùng quản lý theo phân cấp.
Khi nào cần biết về Doanh thu phi thuế trong ngành ngân hàng?
Khi làm việc tại các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng có vốn nhà nước hoặc phục vụ khách hàng doanh nghiệp lớn, bạn cần hiểu rõ doanh thu phi thuế để: (1) phục vụ công tác thu phí dịch vụ công qua hệ thống ngân hàng - bao gồm thu phí hành chính, phí sử dụng đường bộ, lệ phí đăng ký kinh doanh; (2) phân tích cơ cấu thu nhập của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là khách hàng doanh nghiệp lớn của ngân hàng, từ đó đánh giá năng lực tài chính và khả năng trả nợ; (3) đánh giá rủi ro tín dụng khu vực khi khoản thu phi thuế (đặc biệt từ đấu giá đất, đầu tư công) biến động mạnh - yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của chính quyền địa phương và khả năng trả nợ của các dự án đầu tư công; (4) ứng dụng trong các bài thi tuyển dụng ngân hàng về cơ cấu thu ngân sách nhà nước, vai trò của SCIC, cổ tức và thoái vốn nhà nước.
Doanh thu phi thuế ảnh hưởng thế nào đến khách hàng ngân hàng?
Khách hàng cá nhân chịu tác động trực tiếp qua phí hành chính như phí cấp sổ đỏ (khoảng 100.000 - 500.000 đồng/lần cấp mới), phí cấp giấy phép lái xe (khoảng 1.200.000 đồng), phí sử dụng đường bộ (1.500.000 đồng/ô tô/năm) - các khoản này hiện đều có thể thanh toán qua ứng dụng ngân hàng số của Ngân hàng A hoặc Ngân hàng B. Khách hàng doanh nghiệp chịu ảnh hưởng qua lệ phí đăng ký kinh doanh, tiền thuê đất hằng năm (có thể lên tới hàng tỷ đồng đối với doanh nghiệp lớn), phí thẩm định dự án đầu tư, lệ phí trước bạ ô tô từ 2% đến 15% giá trị xe. Khi doanh thu phi thuế biến động mạnh (ví dụ thị trường bất động sản đóng băng khiến thu từ đấu giá đất giảm 30% - 40%), ngân sách địa phương bị thu hẹp, từ đó tác động tiêu cực đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, ảnh hưởng đến doanh nghiệp xây dựng - khách hàng vay vốn của ngân hàng.
Tổng kết
Doanh thu phi thuế (Non-Tax Revenue) là cấu phần không thể thiếu trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước, đóng vai trò bổ sung chiến lược cho nguồn thu thuế truyền thống. Với tỷ trọng từ 20% đến 25% tổng thu ngân sách hằng năm tại Việt Nam (tương đương khoảng 400.000 - 500.000 tỷ đồng giai đoạn 2023 - 2024), nhóm khoản thu này phản ánh hiệu quả quản lý tài sản công, năng lực khai thác nguồn lực phi thuế và chất lượng đầu tư vốn nhà nước vào khu vực doanh nghiệp. Đối với người làm trong ngành ngân hàng, việc nắm vững khái niệm này không chỉ giúp hiểu biết sâu về tài chính công mà còn hỗ trợ đắc lực trong phân tích khách hàng doanh nghiệp - đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước, doanh nghiệp xây dựng và bất động sản - cũng như trong các kỳ thi tuyển dụng ngân hàng. Việc phân biệt rõ phí và lệ phí, nắm vững vai trò của SCIC và các tập đoàn nhà nước, hiểu được cơ chế đấu giá đất và phí dịch vụ công sẽ là lợi thế cạnh tranh quan trọng cho ứng viên ngân hàng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.