Đơn kiện đòi nợ ngân hàng là văn bản do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng (hoặc đại diện hợp pháp của họ) nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền, yêu cầu cơ quan tố tụng giải quyết tranh chấp về việc khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đây là biện pháp cuối cùng trong quy trình thu hồi nợ, được áp dụng khi các biện pháp thương lượng, nhắc nợ và xử lý tài sản đảm bảo nội bộ không mang lại hiệu quả. Đơn kiện phải tuân thủ các quy định về hình thức, thủ tục tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
Khi khách hàng vay vốn tại ngân hàng nhưng không thanh toán gốc, lãi hoặc phí theo đúng thời hạn cam kết trong hợp đồng, ngân hàng có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, 27 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đơn kiện thường bao gồm các nội dung chính như: yêu cầu buộc bị đơn trả toàn bộ số nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí phạt vi phạm hợp đồng; yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo (nếu có) để thu hồi nợ; yêu cầu bồi thường thiệt hại và chịu án phí. Trước khi nộp đơn kiện, ngân hàng thường gửi thông báo nhắc nợ, đề nghị thanh toán và thực hiện các bước hòa giải theo Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Quá trình tố tụng có thể trải qua các giai đoạn hòa giải, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, sau đó bản án có hiệu lực sẽ được thi hành thông qua cơ quan thi hành án dân sự.
Ví dụ thực tế: Ông Nguyễn Văn A vay mua nhà tại Ngân hàng X với số tiền 2 tỷ đồng, thế chấp căn hộ làm tài sản đảm bảo. Sau 6 tháng không trả nợ và đã được ngân hàng gửi ít nhất 3 văn bản nhắc nợ nhưng không có phản hồi, ngân hàng sẽ lập đơn kiện gửi Tòa án nhân dân quận nơi bị đơn cư trú hoặc nơi có tài sản đảm bảo, yêu cầu buộc ông A thanh toán toàn bộ dư nợ cộng lãi quá hạn và phát mại căn hộ để thu hồi nợ. Một trường hợp khác là doanh nghiệp B vay 10 tỷ đồng với hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng Y, sau khi đáo hạn không trả được, ngân hàng khởi kiện đồng thời yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản và tài sản của doanh nghiệp nhằm đảm bảo thi hành án.
Về quy định pháp lý liên quan, hoạt động khởi kiện đòi nợ của ngân hàng được điều chỉnh chủ yếu bởi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2022), Luật Các tổ chức tín dụng 2024, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng là căn cứ quan trọng. Thời hiệu khởi kiện đòi nợ theo hợp đồng tín dụng được quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 là 3 năm kể từ ngày quyền yêu cầu được phát sinh.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng đơn kiện đòi nợ chỉ là một trong nhiều biện pháp thu hồi nợ mà ngân hàng được phép áp dụng, bao gồm: nhắc nợ qua điện thoại, gửi thông báo bằng văn bản, thương lượng cơ cấu lại nợ, bán nợ cho công ty mua bán nợ, xử lý tài sản đảm bảo theo thỏa thuận hoặc qua VAMC, và cuối cùng mới là khởi kiện tại Tòa án. Khi làm bài thi, thí sinh cần phân biệt rõ giữa thu hồi nợ nội bộ, bán nợ, chuyển giao nợ cho VAMC và khởi kiện đòi nợ, đồng thời nắm vững điều kiện khởi kiện, thẩm quyền tòa án và thời hiệu khởi kiện để tránh nhầm lẫn.