Hình thức hợp đồng bảo đảm trong hoạt động ngân hàng là tổng hợp các yêu cầu về hình thức pháp lý mà hợp đồng bảo đảm giữa tổ chức tín dụng với khách hàng phải tuân thủ để có hiệu lực và có thể thi hành. Tùy thuộc vào loại tài sản bảo đảm, hợp đồng có thể phải được lập thành văn bản, công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Đây là yếu tố tiền đề để quyền bảo đảm của ngân hàng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Hợp đồng bảo đảm trong lĩnh vực ngân hàng được điều chỉnh chủ yếu bởi nguyên tắc hình thức, theo đó mỗi loại tài sản bảo đảm có một hình thức hợp đồng tương ứng. Đối với bất động sản như nhà ở, đất đai, hợp đồng thế chấp phải được công chứng hoặc chứng thực và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Đối với động sản, hợp đồng cầm cố phải được lập thành văn bản và đăng ký trong trường hợp pháp luật yêu cầu. Đối với chứng khoán, hợp đồng phải có văn bản và đăng ký tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) hoặc Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán. Đối với quyền đòi nợ, các bên có thể thỏa thuận bằng văn bản nhưng cần đảm bảo thông báo cho bên thứ ba liên quan. Nguyên tắc chung là hình thức càng chặt chẽ thì giá trị pháp lý của hợp đồng càng cao, giúp ngân hàng thuận lợi trong việc xử lý tài sản khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Ví dụ, khi khách hàng cá nhân vay vốn mua nhà tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và thế chấp căn nhà đó, hợp đồng thế chấp bắt buộc phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng và đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh cấp huyện. Trường hợp khách hàng doanh nghiệp cầm cố cổ phiếu niêm yết để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), hợp đồng cầm cố phải được lập bằng văn bản và đăng ký tại VSD theo quy định. Một ví dụ khác là khi doanh nghiệp thế chấp nhà máy, dây chuyền sản xuất, hợp đồng phải có văn bản và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký Giao dịch, Tài sản của Cục Đăng ký Quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp.
Các quy định pháp lý liên quan bao gồm Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 425, 428, 432, 437 quy định về hình thức hợp đồng bảo đảm), Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Nghị định 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm, và các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước như Thông tư 06/2021/TT-NHNN. Ngoài ra, Luật các Tổ chức tín dụng 2024 cũng có các quy định riêng về bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng việc không tuân thủ đúng hình thức hợp đồng bảo đảm có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thi hành, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngân hàng. Nguyên tắc quan trọng là hình thức hợp đồng phải phù hợp với loại tài sản bảo đảm cụ thể. Khi thi, thí sinh cần nắm vững bảng phân loại hình thức tương ứng với từng nhóm tài sản và phân biệt rõ giữa các khái niệm công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm. Đặc biệt, cần chú ý đến thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền.