Tỷ trọng vốn Tier 2 trong tổng vốn là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ phần trăm của vốn cấp 2 (Tier 2) so với tổng vốn tự có của ngân hàng (bao gồm cả vốn cấp 1 và vốn cấp 2). Đây là một trong những tiêu chí quan trọng trong khung quản trị vốn theo chuẩn mực Basel II, Basel III và được áp dụng tại hệ thống ngân hàng Việt Nam thông qua các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Chỉ tiêu này giúp đánh giá mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào các nguồn vốn bổ sung có chất lượng thấp hơn vốn cấp 1.
Vốn cấp 2 bao gồm các thành phần như: vốn cổ phần ưu đãi cộng dồn không hoàn lại, trái phiếu chuyển đổi, dự phòng bổ sung cho những khoản cho vay có vấn đề chưa được xác định cụ thể, các khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản theo giá thị trường và một phần nợ thứ cấp có kỳ hạn trên 5 năm. Công thức tính như sau: Tỷ trọng vốn Tier 2 = (Vốn cấp 2 / Tổng vốn tự có) x 100%. Theo quy định Basel III, vốn cấp 2 chỉ được tính vào tổng vốn tự có tối đa bằng 100% vốn cấp 1, tức là tỷ trọng vốn Tier 2 trong tổng vốn không được vượt quá 50%. Quy định này nhằm đảm bảo rằng phần lớn nguồn vốn tự có của ngân hàng đến từ vốn cấp 1 – nguồn vốn có chất lượng cao nhất, có khả năng hấp thụ tổn thất tốt nhất trong mọi tình huống.
Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, BIDV, Techcombank thường có tỷ trọng vốn Tier 2 dao động từ 15% đến 25% trong tổng vốn tự có, phản ánh cơ cấu vốn khá lành mạnh và tuân thủ ngưỡng 50% theo quy định. Ví dụ, một ngân hàng có vốn cấp 1 là 80.000 tỷ đồng và vốn cấp 2 là 15.000 tỷ đồng, thì tổng vốn tự có là 95.000 tỷ đồng, tỷ trọng vốn Tier 2 trong tổng vốn sẽ là 15.000/95.000 ≈ 15,79%. Nếu ngân hàng phát hành thêm nhiều trái phiếu vốn cấp 2, tỷ trọng này sẽ tăng lên nhưng vẫn phải đảm bảo không vượt 50%.
Theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, việc giới hạn tỷ trọng vốn cấp 2 được quy định rõ ràng nhằm đảm bảo chất lượng vốn tự có. Ngoài ra, Thông tư 22/2023/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 41/2016 cũng tiếp tục duy trì nguyên tắc này theo chuẩn mực quốc tế Basel III.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần nhớ rõ ba điểm quan trọng: thứ nhất, vốn cấp 2 chỉ được tính tối đa bằng 100% vốn cấp 1, do đó tỷ trọng trong tổng vốn tối đa là 50%; thứ hai, đây là một trong những giới hạn cấu thành nên tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR); thứ ba, khi tính toán cần phân biệt rõ giữa giới hạn 50% này với yêu cầu CAR tối thiểu 8% (hoặc 9%, 10% tuỳ trường hợp) theo Thông tư 41.