Ủy thác cho vay theo pháp luật là gì?

Loan Entrustment by Law Pháp lý ~9 phút đọc

Ủy thác cho vay theo pháp luật là gì?

Ủy thác cho vay theo pháp luật (tiếng Anh: Loan Entrustment by Law) là một hình thức hoạt động tín dụng đặc biệt được quy định rõ trong hệ thống pháp luật ngân hàng Việt Nam, trong đó một tổ chức tín dụng (TCTD) - gọi là bên ủy thác - sẽ chuyển một phần nguồn vốn của mình cho một TCTD khác - gọi là bên nhận ủy thác - để thực hiện việc cho vay đối với khách hàng cuối. Toàn bộ hoạt động này phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 09/09/2013 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định về hoạt động ủy thác và nhận ủy thác trong lĩnh vực ngân hàng.

Về bản chất pháp lý, ủy thác cho vay không phải là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa bên ủy thác và khách hàng vay, mà là quan hệ đại lý - ủy thác giữa hai TCTD. Bên nhận ủy thác chính là người trực tiếp ký kết hợp đồng tín dụng với khách hàng, trực tiếp giải ngân vốn, thu nợ, quản lý và chịu trách nhiệm về rủi ro tín dụng trong suốt quá trình cho vay. Bên ủy thác cung cấp nguồn vốn và nhận lại phần lợi nhuận từ khoản vay theo thỏa thuận (thường được tính bằng chênh lệch giữa lãi suất cho vay áp dụng với khách hàng và lãi suất mà bên nhận ủy thác trả cho bên ủy thác, trừ đi phí ủy thác). Bên ủy thác có quyền giám sát hoạt động cho vay của bên nhận ủy thác nhằm đảm bảo tuân thủ đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác.

Hoạt động này khác biệt rõ ràng với các hình thức hợp tác tín dụng khác như đồng tài trợ (co-financing), cho vay hợp vốn (syndicated loan) hay liên doanh cho vay, trong đó nhiều TCTD cùng tham gia vào một khoản tín dụng và cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng. Ở mô hình ủy thác cho vay, chỉ có bên nhận ủy thác chịu trách nhiệm trực tiếp về rủi ro tín dụng trước khách hàng, mặc dù cả hai bên đều phải tuân thủ các quy định về tỷ lệ an toàn vốn của NHNN.


Đặc điểm và phân loại

Đặc điểm nhận biết

Đặc điểm Nội dung cụ thể
Chủ thể tham gia Chỉ các TCTD được cấp phép hoạt động cho vay mới được phép nhận ủy thác cho vay
Quan hệ pháp lý Bên ủy thác - bên nhận ủy thác - khách hàng vay (khách hàng chỉ giao dịch với bên nhận ủy thác)
Rủi ro tín dụng Thuộc về bên nhận ủy thác - họ phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định
Nguồn vốn Bên ủy thác cung cấp toàn bộ hoặc một phần vốn cho khoản vay
Phí ủy thác Được thỏa thuận trong hợp đồng, thường tính theo % trên dư nợ ủy thác
Giám sát Bên ủy thác có quyền giám sát hoạt động cho vay của bên nhận ủy thác
Hợp đồng Phải lập thành văn bản, ghi rõ quyền, nghĩa vụ, phạm vi và điều kiện ủy thác
Tuân thủ pháp lý Thông tư 21/2013/TT-NHNN, Thông tư 39/2016/TT-NHNN và các quy định liên quan

Phân loại hình thức ủy thác cho vay

Theo mục đích sử dụng vốn:

  • Ủy thác cho vay ngắn hạn: Thời hạn dưới 12 tháng, thường phục vụ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
  • Ủy thác cho vay trung và dài hạn: Thời hạn từ 12 tháng trở lên, phục vụ dự án đầu tư, mua sắm tài sản cố định
  • Ủy thác cho vay theo chương trình: Gắn với chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ hoặc NHNN

Theo phạm vi rủi ro:

  • Ủy thác trọn gói: Bên nhận ủy thác chịu toàn bộ rủi ro tín dụng và phải hoàn trả vốn cho bên ủy thác bất kể kết quả cho vay
  • Ủy thác không trọn gói: Bên nhận ủy thác chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi thỏa thuận

Theo quy mô và đối tượng khách hàng:

  • Ủy thác cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
  • Ủy thác cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
  • Ủy thác cho vay tiêu dùng
  • Ủy thác cho vay theo chương trình tín dụng chính sách

Ví dụ thực tế trong ngành ngân hàng

Ví dụ 1: Ủy thác cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp

Ngân hàng A - một ngân hàng thương mại cổ phần lớn có nguồn vốn huy động dồi dào nhưng mạng lưới chi nhánh chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn - muốn mở rộng cho vay đối với khách hàng nông nghiệp tại khu vực Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, việc tự xây dựng hệ thống chi nhánh tại các huyện, xã sẽ tốn kém và mất thời gian.

Giải pháp: Ngân hàng A ký hợp đồng ủy thác cho vay với Ngân hàng B - một ngân hàng có hệ thống hơn 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch phủ rộng đến cấp huyện trên toàn quốc. Theo hợp đồng:

  • Tổng giá trị ủy thác: 5.000 tỷ đồng
  • Lãi suất bên nhận ủy thác trả cho bên ủy thác: 6,5%/năm
  • Lãi suất cho vay áp dụng với khách hàng nông nghiệp: 9,0%/năm
  • Phí ủy thác: 0,5%/năm trên dư nợ thực tế
  • Thời hạn hợp đồng: 24 tháng

Với mô hình này, Ngân hàng B trực tiếp ký hợp đồng tín dụng với khoảng 15.000 hộ nông dân500 doanh nghiệp nông nghiệp, giải ngân trung bình từ 200 triệu đến 2 tỷ đồng/khách hàng. Ngân hàng A thu về phần chênh lệch lãi suất 2,5%/năm (tương đương khoảng 125 tỷ đồng mỗi năm), đồng thời mở rộng được phạm vi khách hàng mà không cần đầu tư mạng lưới.

Ví dụ 2: Ủy thác theo chương trình tín dụng ưu đãi

Ngân hàng C nhận ủy thác từ một tổ chức tài chính quốc tế (giả định) để triển khai chương trình cho vay ưu đãi dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực xuất khẩu. Hợp đồng ủy thác có tổng giá trị 1.200 tỷ đồng với các điều khoản:

  • Lãi suất cho vay ưu đãi: 4,5%/năm (thấp hơn lãi suất thị trường 6,8%/năm)
  • Phí ủy thác: 1,2%/năm
  • Hạn mức tối đa mỗi khách hàng: 50 tỷ đồng
  • Yêu cầu bên nhận ủy thác phải giải ngân tối thiểu 80% tổng hạn mức trong vòng 18 tháng

Qua chương trình này, khoảng 120 doanh nghiệp xuất khẩu được tiếp cận nguồn vốn giá rẻ, góp phần thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu ước tính tăng 8-10% trong năm triển khai.

Ví dụ 3: Ủy thác cho vay tiêu dùng giữa các ngân hàng

Ngân hàng D - một công ty tài chính chuyên cho vay tiêu dùng có nền tảng công nghệ tốt nhưng hạn chế về vốn - ký hợp đồng nhận ủy thác từ Ngân hàng E với tổng giá trị 800 tỷ đồng để cho vay mua ô tô, đồ gia dụng. Ngân hàng E được hưởng lợi nhuận ổn định 7,2%/năm trên dư nợ mà không cần trực tiếp phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng.


Ủy thác cho vay theo pháp luật trong các ngôn ngữ khác

Ngôn ngữ Thuật ngữ Phiên âm
Tiếng Anh Loan Entrustment by Law /loʊn ɪnˈtrʌstmənt baɪ lɔː/
Tiếng Nhật 法令に基づく貸出委託 (Hōrei ni motozuku kashiduke itaku) /hoːɾeɪ ni motod͡zuku kaɕid͡zɯke itakɯ/
Tiếng Hàn 법에 따른 대출 위탁 (Beob-e ttaruan daechul witak) /pʌpʰe ttʰaɾwan tɛtɕʰul witʰak/
Tiếng Trung 依法委托贷款 (Yīfǎ wěituō dàikuǎn) /i⁵⁵ fa̯²¹⁴ weɪ³⁵ tʰuo⁵⁵ taɪ⁵¹ kʰwan⁵¹/
Tiếng Tây Ban Nha Préstamo por Mandato Legal (Préstamo en Comisión por Ley) /ˈpɾestamo poɾ manˈdato leˈɣal/

Câu hỏi thường gặp

Ủy thác cho vay khác gì với cho vay hợp vốn (đồng tài trợ)?

Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở mối quan hệ pháp lý với khách hàng vay. Trong ủy thác cho vay, chỉ bên nhận ủy thác ký hợp đồng tín dụng với khách hàng và chịu trách nhiệm hoàn toàn về rủi ro tín dụng. Trong cho vay hợp vốn (syndicated loan) hay đồng tài trợ, nhiều TCTD cùng xuất hiện trong hợp đồng tín dụng với khách hàng và cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Ngoài ra, ủy thác cho vay được điều chỉnh bởi Thông tư 21/2013, trong khi cho vay hợp vốn còn có quy định riêng tại Thông tư 16/2017/TT-NHNN về cho vay hợp vốn.

Khi nào cần áp dụng ủy thác cho vay trong thực tế?

Ủy thác cho vay thường được áp dụng trong ba trường hợp chính. Thứ nhất, khi một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhưng mạng lưới hạn chế và muốn mở rộng cho vay tại khu vực chưa phát triển hệ thống. Thứ hai, khi triển khai các chương trình tín dụng chính sách, ưu đãi lãi suất mà NHNN hoặc các tổ chức quốc tế cần một TCTD có mạng lưới rộng để phân phối vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng. Thứ ba, khi công ty tài chính, tổ chức tín dụng phi ngân hàng cần hợp tác với ngân hàng thương mại để tiếp cận nguồn vốn giá rẻ hơn.

Ủy thác cho vay ảnh hưởng thế nào đến khách hàng và tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng?

Về phía khách hàng, ủy thác cho vay tạo cơ hội tiếp cận vốn nhanh hơn tại các khu vực mà ngân hàng ủy thác chưa có chi nhánh, đồng thời có thể được hưởng lãi suất ưu đãi nếu là chương trình mục tiêu. Tuy nhiên, khách hàng chỉ giao dịch với bên nhận ủy thác, không có quan hệ trực tiếp với bên ủy thác. Về phía ngân hàng, cả hai bên đều phải tính toán tỷ lệ an toàn vốn (CAR) - khoản cho vay ủy thác tuy không làm tăng rủi ro tín dụng trên bảng cân đối của bên ủy thác, nhưng vẫn phải được quản lý rủi ro tập trung và các hạn chế về mức cho vay tối đa. Bên nhận ủy thác phải trích lập dự phòng theo quy định tại Thông tư 11/2021/TT-NHNN.


Tổng kết

Ủy thác cho vay theo pháp luật là một công cụ hợp tác chiến lược trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, giúp mở rộng phạm vi cung cấp tín dụng mà vẫn đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp lý. Đối với người ôn thi ngân hàng, cần nắm vững các khái niệm về bên ủy thác, bên nhận ủy thác, cách phân biệt với cho vay hợp vốn, đồng tài trợ, đồng thời hiểu rõ cơ chế phân chia rủi ro tín dụng và quyền giám sát của bên ủy thác. Nắm chắc Thông tư 21/2013/TT-NHNN cùng các quy định liên quan sẽ giúp bạn xử lý tốt các bài toán thực tế trong kỳ thi tuyển dụng ngân hàng.

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8