Vốn cho rủi ro tín dụng theo phương pháp IRB là gì?

IRB credit risk capital Quản lý vốn ~4 phút đọc

Vốn cho rủi ro tín dụng theo phương pháp IRB (Internal Ratings-Based) là yêu cầu vốn tối thiểu mà các ngân hàng thương mại phải dự trữ để đối phó với những tổn thất có thể phát sinh từ rủi ro tín dụng, được tính toán dựa trên hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng nội bộ của chính ngân hàng. Đây là phương pháp tiên tiến nhất trong ba phương pháp tính vốn yêu cầu cho rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel II/III, cho phép ngân hàng tự xây dựng mô hình đánh giá rủi ro phù hợp với đặc thù hoạt động của mình thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào xếp hạng của các tổ chức quốc tế.

Theo phương pháp IRB, yêu cầu vốn cho rủi ro tín dụng được tính dựa trên bốn thành phần chính là xác suất vỡ nợ (PD - Probability of Default), tỷ lệ tổn thất ước tính (LGD - Loss Given Default), mức độ phơi nhiợm tại thời điểm vỡ nợ (EAD - Exposure at Default) và kỳ hạn hiệu dụng của khoản vay (M - Effective Maturity). Công thức tổng quát áp dụng cho khách hàng doanh nghiệp là K = LGD × [N((1-R)^(-0,5) × G(PD) + (R/(1-R))^(0,5) × G(0,999)) - PD] × MA, trong đó R là hệ số tương quan, MA là thời hạn điều chỉnh, G là hàm phân phối chuẩn tích lũy nghịch đảo và N là hàm phân phối chuẩn tích lũy. Có hai cấp độ áp dụng là phương pháp IRB nền tảng (F-IRB) - ngân hàng chỉ tự ước lượng PD, còn LGD, EAD, M sử dụng giá trị do cơ quan quản lý cung cấp, và phương pháp IRB nâng cao (A-IRB) - ngân hàng tự ước lượng tất cả các tham số. Kết quả tính toán từ công thức sẽ được nhân với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% để ra yêu cầu vốn pháp quy cuối cùng.

Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, Techcombank, MB, ACB và VPBank đã và đang triển khai áp dụng phương pháp IRB theo lộ trình của Ngân hàng Nhà nước. Ví dụ, khi một ngân hàng cho doanh nghiệp X vay 100 tỷ đồng với PD ước tính là 1%, LGD là 45%, EAD bằng 100 tỷ và M là 2,5 năm, sau khi áp dụng công thức tính toán, tài sản có rủi ro tín dụng sẽ được xác định và nhân với 8% để ra yêu cầu vốn cho khoản vay này. Nếu áp dụng phương pháp tiêu chuẩn (Standardized Approach), doanh nghiệp X có thể được xếp hạng BBB với hệ số rủi ro 100%, tài sản có rủi ro là 100 tỷ và vốn yêu cầu là 8 tỷ; tuy nhiên với phương pháp IRB, nhờ đánh giá chi tiết hơn về đặc thù khách hàng, tỷ lệ vốn yêu cầu có thể thấp hơn đáng kể, giúp ngân hàng tối ưu hóa việc sử dụng vốn.

Về khung pháp lý, phương pháp IRB được quy định chi tiết tại Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo chuẩn mực Basel II, có hiệu lực từ ngày 01/02/2017. Tiếp đó, Thông tư số 13/2019/TT-NHNN ngày 08/05/2019 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 41 nhằm hoàn thiện khung tính vốn theo chuẩn mực quốc tế. Ngoài ra, Quyết định số 1606/QĐ-NHNN năm 2015 đã phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực Basel II tại Việt Nam với lộ trình cụ thể, trong đó các ngân hàng trong nhóm 1 (có tổng tài sản trên 200.000 tỷ đồng) phải hoàn thành việc áp dụng phương pháp IRB cơ bản trong giai đoạn 2018-2019 và phương pháp IRB nâng cao từ sau năm 2019.

Đối với người ôn thi chứng chỉ ngân hàng, chứng chỉ CPA, FRM hoặc các chương trình đào tạo về quản trị rủi ro, cần phân biệt rõ ba phương pháp tính vốn cho rủi ro tín dụng gồm phương pháp tiêu chuẩn (SA), phương pháp IRB cơ bản (F-IRB) và phương pháp IRB nâng cao (A-IRB). Đặc biệt lưu ý rằng phương pháp IRB yêu cầu ngân hàng phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đạt chuẩn, có quy trình kiểm chứng mô hình (validation) chặt chẽ và phải được cơ quan quản lý chấp thuận trước khi áp dụng. Ngoài ra, các trường hợp ngoại lệ không được áp dụng IRB bao gồm các khoản phơi nhiợm trong danh mục giao dịch, các khoản phơi nhiợm với chính phủ, ngân hàng trung ương và một số khoản cho vay đặc biệt khác mà phải sử dụng phương pháp tiêu chuẩn theo quy định.

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8