Vốn tích lũy (Accumulated Capital) là phần vốn được hình thành từ lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp, tổ chức tín dụng giữ lại qua các năm hoạt động kinh doanh thay vì phân phối hết cho cổ đông, chủ sở hữu dưới dạng cổ tức hay lợi nhuận. Đây là một bộ phận quan trọng trong vốn chủ sở hữu, phản ánh năng lực tự tài trợ và mức độ tăng trưởng nội sinh của tổ chức tín dụng.
Vốn tích lũy được hình thành thông qua quá trình tái đầu tư lợi nhuận, trong đó một phần hoặc toàn bộ lợi nhuận sau thuế được giữ lại và bổ sung vào nguồn vốn hoạt động theo các năm. Cơ chế hình thành bao gồm: lợi nhuận chưa phân phối từ các năm trước chuyển sang, lợi nhuận sau thuế của năm hiện tại sau khi trích lập các quỹ theo quy định và phần còn lại được cộng dồn vào vốn tích lũy. Đối với ngân hàng thương mại, vốn tích lũy giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực tài chính, mở rộng quy mô cho vay, đầu tư và gia tăng khả năng chống đỡ rủi ro. Vốn tích lũy càng lớn cho thấy tổ chức tín dụng có nền tảng vốn vững chắc, khả năng sinh lời ổn định và mức độ tự chủ tài chính cao.
Tại Việt Nam, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần lớn như Vietcombank, BIDV, Techcombank hay MB đã liên tục tích lũy vốn từ lợi nhuận sau thuế hàng năm để bổ sung vốn điều lệ và vốn tự có. Ví dụ, một ngân hàng có lợi nhuận sau thuế năm 2023 là 20.000 tỷ đồng, trong đó trích 5.000 tỷ trả cổ tức, 3.000 tỷ trích quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và các quỹ dự phòng, phần còn lại 12.000 tỷ được bổ sung vào vốn tích lũy. Nhờ đó, hệ số CAR (tỷ lệ an toàn vốn) của ngân hàng được cải thiện, đáp ứng các chuẩn Basel II, Basel III mà Ngân hàng Nhà nước yêu cầu, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN và Thông tư 22/2023/TT-NHNN quy định về tỷ lệ an toàn vốn của tổ chức tín dụng, vốn tích lũy từ lợi nhuận sau thuế và các quỹ dự trữ là một thành phần thuộc vốn cấp 2 (Tier 2) trong cơ cấu vốn tự có của ngân hàng. Nghị định 93/2017/NĐ-CP về điều kiện cấp giấy phép và hoạt động của tổ chức tín dụng cũng quy định ngân hàng phải duy trì và tăng trưởng vốn tự có thông qua tái đầu tư lợi nhuận, trích lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ hàng năm với tỷ lệ tối thiểu 5% lợi nhuận sau thuế cho đến khi quỹ này bằng 25% vốn điều lệ.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ vốn tích lũy với vốn điều lệ, vốn cổ phần và lợi nhuận chưa phân phối; trong đó vốn tích lũy là kết quả của quá trình tích lũy qua nhiều năm, phản ánh giá trị lợi nhuận đã được giữ lại. Cần nhớ công thức tổng quát: Vốn tự có = Vốn cấp 1 (vốn cổ phần phổ thông + thặng dư vốn + lợi nhuận giữ lại) + Vốn cấp 2 (bao gồm vốn tích lũy từ lợi nhuận, dự phòng chung, nợ thứ cấp có thời hạn ban đầu từ 5 năm trở lên). Khi làm bài thi, chú ý các chỉ tiêu liên quan như hệ số CAR (tối thiểu 8% theo Basel II, 10,5% theo Basel III), ROE, tỷ lệ vốn tích lũy trên tổng vốn tự có, và cách tính vốn tích lũy trong các tình huống trích lập quỹ, phân phối cổ tức bằng cổ phiếu hay chia cổ phiếu thưởng.