Bản quyền phần mềm (Software Copyright) là quyền tác giả đối với chương trình máy tính, được hình thành tự động kể từ thời điểm phần mềm được định hình dưới dạng vật chất mà không cần đăng ký. Đây là một loại tài sản trí tuệ được pháp luật bảo hộ, bao gồm mã nguồn (source code), mã đối tượng (object code), giao diện người dùng, tài liệu hướng dẫn và các thành phần liên quan. Chủ sở hữu bản quyền có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các hành vi sao chép, phân phối, sửa đổi, phát hành và truyền đạt phần mềm theo quy định pháp luật.
Theo cơ chế hoạt động, bản quyền phần mềm tồn tại song song với quyền sở hữu tài sản đối với bản thân vật mang phần mềm (như đĩa CD, USB, máy chủ). Điều này có nghĩa việc mua một bản sao phần mềm chỉ chuyển giao quyền sở hữu vật chất chứ không tự động chuyển giao bản quyền, trừ khi có thỏa thuận bằng hợp đồng cấp quyền sử dụng (license). Phần mềm có thể được bảo hộ dưới hai hình thức pháp lý chính: bản quyền (copyright) bảo vệ biểu thức của chương trình và bằng sáng chế (patent) bảo vệ giải pháp kỹ thuật mới. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau năm tác giả chết, đối với pháp nhân là 50 năm kể từ năm công bố. Việc vi phạm bản quyền phần mềm có thể bị xử lý hành chính, dân sự hoặc hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại như Vietcombank, Techcombank, MB, VPBank đều phải mua bản quyền sử dụng phần mềm cho hệ thống core banking, phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu (Oracle, SQL Server), phần mềm chống virus (Kaspersky, Symantec) và các ứng dụng phân tích dữ liệu. Chi phí mua bản quyền phần mềm được hạch toán vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp và là khoản chi phí được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào nếu có hóa đơn hợp lệ. Khi sử dụng phần mềm nước ngoài, các ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thuế nhà thầu nước ngoài, bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp 5% trên phần thu nhập tại Việt Nam và thuế giá trị gia tăng 5%. Năm 2023-2024, Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường yêu cầu các ngân hàng sử dụng phần mềm có bản quyền đầy đủ nhằm đảm bảo an toàn, an ninh mạng và tuân thủ quy định về chuyển đổi số.
Về cơ sở pháp lý, quyền tác giả đối với phần mềm được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2022), Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ của Cục Bản quyền tác giả. Nghị định 131/2013/NĐ-CP và Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bản quyền tác giả, mức phạt tiền tối đa lên đến 500 triệu đồng đối với hành vi sao chép, phân phối phần mềm không được phép. Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội vi phạm bản quyền phần mềm có thể bị phạt tù đến 3 năm. Thông tư 111/2013/TT-BTC và Thông tư 92/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế đối với hoạt động chuyển giao, sử dụng phần mềm.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ ba khái niệm: bản quyền phần mềm (quyền tác giả), quyền sở hữu phần mềm (tài sản) và giấy phép sử dụng phần mềm (license). Bản quyền có thể được định giá, mua bán, thế chấp và là tài sản đảm bảo trong các giao dịch tín dụng. Khi ngân hàng mua phần mềm, cần phân biệt mua đứt bán đoạn (vốn hóa) hay thuê sử dụng (chi phí) để hạch toán đúng. Ngoài ra, cần nắm rõ quy định về nguồn gốc phần mềm trong hồ sơ đấu thầu công nghệ thông tin của ngân hàng và các tiêu chuẩn ISO về quản lý tài sản phần mềm.