o lãnh hoàn ứng trước (Advance Payment Guarantee) là một loại bảo lãnh ngân hàng, theo đó ngân hàng cam kết hoàn trả khoản tiền mà bên mua (bên thụ hưởng) đã ứng trước cho nhà thầu hoặc nhà cung cấp nếu nhà thầu không thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng, cung cấp dịch vụ hoặc hoàn thành công trình theo hợp đồng đã ký kết. Đây là công cụ tài chính quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của bên ứng trước tiền, giúp họ không bị mất trắng khoản tiền đã thanh toán khi đối tác vi phạm hợp đồng.
Khi bên mua và nhà thầu ký kết hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng hoặc cung cấp thiết bị, bên mua thường phải ứng trước một khoản tiền (phổ biến từ 10% đến 30% giá trị hợp đồng) để nhà thầu có vốn triển khai công việc. Để đảm bảo an toàn cho khoản ứng trước này, bên mua yêu cầu nhà thầu phải có bảo lãnh hoàn ứng trước từ ngân hàng. Nhà thầu sẽ đề nghị ngân hàng phát hành bảo lãnh, ngân hàng tiến hành thẩm định năng lực tài chính và uy tín của nhà thầu trước khi cấp bảo lãnh. Giá trị bảo lãnh thường tương đương khoản tiền ứng trước và có thể giảm dần theo tiến độ hoàn thành công việc. Khi nhà thầu hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ, bảo lãnh sẽ tự động hết hiệu lực; ngược lại, nếu nhà thầu vi phạm hợp đồng, bên mua có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán toàn bộ hoặc một phần khoản bảo lãnh.
Trong thực tế tại Việt Nam, bảo lãnh hoàn ứng trước được sử dụng rất phổ biến trong các hợp đồng xây dựng, đặc biệt là các dự án đầu tư công và dự án có quy mô lớn. Ví dụ, Công ty X ký hợp đồng thi công gói thầu xây dựng trị giá 200 tỷ đồng với Chủ đầu tư Y, theo đó Chủ đầu tư Y yêu cầu ứng trước 30 tỷ đồng (15%) để Công ty X mua vật tư và triển khai thi công, khi đó Công ty X phải xin ngân hàng phát hành bảo lãnh hoàn ứng trước trị giá 30 tỷ đồng. Nếu Công ty X không hoàn thành công trình hoặc bỏ dở dự án, Chủ đầu tư Y sẽ được ngân hàng hoàn trả khoản tiền đã ứng trước theo cam kết bảo lãnh. Loại bảo lãnh này cũng thường xuất hiện trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, nhập khẩu thiết bị công nghiệp và các dự án ODA.
Bảo lãnh hoàn ứng trước được điều chỉnh bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 04/2021/NĐ-CP) cùng các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đối với giao dịch quốc tế, bảo lãnh hoàn ứng trước còn tuân theo Quy tắc URDG 758 (Uniform Rules for Demand Guarantees) của Phòng Công ước và Thực tiễn Thương mại Quốc tế (ICC).
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ bảo lãnh hoàn ứng trước với bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh bảo hành vì ba loại này có mục đích và thời điểm phát hành khác nhau. Cần nắm vững ba bên tham gia gồm: bên bảo lãnh (ngân hàng phát hành), bên được bảo lãnh (nhà thầu - người yêu cầu phát hành) và bên nhận bảo lãnh (chủ đầu tư hoặc bên mua - người thụ hưởng). Đặc biệt, cần hiểu rõ đặc điểm giá trị bảo lãnh hoàn ứng trước giảm dần theo tiến độ hoàn thành nghĩa vụ của nhà thầu, cũng như các điều kiện để bên thụ hưởng được quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán bảo lãnh theo quy định pháp luật hiện hành.