o lãnh ký quỹ bảo đảm là một hình thức bảo lãnh ngân hàng trong đó bên được bảo lãnh phải thực hiện ký quỹ một khoản tiền hoặc tài sản tại ngân hàng bảo lãnh trước hoặc đồng thời với việc phát hành bảo lãnh. Đây là sự kết hợp giữa hai nghiệp vụ: bảo lãnh ngân hàng và ký quỹ, nhằm tạo ra cơ chế bảo đảm kép cho nghĩa vụ thanh toán của bên được bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. Khoản ký quỹ đóng vai trò như tài sản đảm bảo bổ sung, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro và tăng cường năng lực tài chính cho bên được bảo lãnh.
Theo cơ chế hoạt động, khi khách hàng có nhu cầu được bảo lãnh, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng ký quỹ một tỷ lệ nhất định trên giá trị cam kết bảo lãnh, thường dao động từ 5% đến 100% tùy theo mức độ rủi ro và đánh giá tín dụng của khách hàng. Số tiền ký quỹ được gửi vào tài khoản ký quỹ tại ngân hàng và chỉ được hoàn trả khi nghĩa vụ được bảo lãnh kết thúc hoặc được giải tỏa. Trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ, ngân hàng bảo lãnh sẽ sử dụng khoản ký quỹ này để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh trước, sau đó tiến hành truy thu bên được bảo lãnh đối với phần vượt quá khoản ký quỹ (nếu có). Đồng thời, ngân hàng vẫn phát hành thư bảo lãnh với đầy đủ giá trị cam kết như thông thường, đảm bảo quyền lợi tối đa cho bên nhận bảo lãnh.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, bảo lãnh ký quỹ bảo đảm được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực đấu thầu xây dựng cơ bản, đặc biệt khi các nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu lớn tại chủ đầu tư là doanh nghiệp nhà nước. Ví dụ, khi nhà thầu A tham gia đấu thầu thi công một công trình giao thông trị giá 500 tỷ đồng, ngân hàng có thể yêu cầu nhà thầu này ký quỹ 50 tỷ đồng (tương đương 10% giá trị gói thầu) để phát hành thư bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, hình thức này cũng thường được sử dụng trong bảo lãnh thanh toán tiền mua nhà tại các dự án bất động sản, bảo lãnh nghĩa vụ tài chính cho các tổ chức kinh tế mới thành lập, hoặc bảo lãnh cho các hoạt động xuất nhập khẩu khi khách hàng chưa có lịch sử tín dụng rõ ràng tại ngân hàng.
Về khung pháp lý, hoạt động bảo lãnh ký quỹ bảo đảm được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn dưới luật. Cụ thể, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về hoạt động bảo lãnh ngân hàng (đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 18/2023/NĐ-CP) quy định chi tiết về điều kiện, trình tự phát hành bảo lãnh và quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan. Thông tư 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng hướng dẫn cụ thể về tỷ lệ ký quỹ tối đa mà tổ chức tín dụng được yêu cầu khách hàng thực hiện khi phát hành bảo lãnh. Bên cạnh đó, các quy định về ký quỹ còn được áp dụng theo Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 328 đến Điều 339) liên quan đến hợp đồng ký quỹ và các quy định riêng của từng ngân hàng thương mại.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ ba khái niệm thường gây nhầm lẫn: bảo lãnh có tài sản đảm bảo, bảo lãnh ký quỹ và bảo lãnh ký quỹ bảo đảm. Trong đó, bảo lãnh có tài sản đảm bảo sử dụng các tài sản thế chấp, cầm cố khác (bất động sản, chứng khoán, hàng hóa); còn bảo lãnh ký quỹ bảo đảm chỉ sử dụng tiền ký quỹ bằng tiền mặt hoặc tương đương tiền gửi tại chính ngân hàng bảo lãnh. Lưu ý quan trọng là tỷ lệ ký quỹ không được vượt quá giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời khoản ký quỹ này không được tính vào vốn khả dụng của ngân hàng theo quy định về an toàn vốn. Ngoài ra, thí sinh cần nắm vững nguyên tắc "bảo lãnh vô điều kiện" và "bảo lãnh có điều kiện" vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến thứ tự sử dụng khoản ký quỹ khi xảy ra sự kiện bảo lãnh.