Bảo lãnh tiền tạm ứng là một loại bảo lãnh trong đó ngân hàng (bên bảo lãnh) cam kết với bên hưởng bảo lãnh sẽ hoàn trả khoản tiền tạm ứng đã được thanh toán cho nhà thầu hoặc bên bán nếu nhà thầu không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng. Đây là hình thức bảo đảm quan trọng trong các giao dịch thương mại, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng và cung cấp hàng hóa, nhằm bảo vệ quyền lợi của bên đặt hàng khi phải ứng trước một khoản tiền cho đối tác.
Khi bên mua (hoặc chủ đầu tư) thanh toán trước một khoản tiền tạm ứng cho nhà thầu (hoặc bên bán) để nhà thầu có vốn triển khai công việc, nhà thầu sẽ yêu cầu ngân hàng cấp bảo lãnh tiền tạm ứng. Bảo lãnh này đảm bảo rằng nếu nhà thầu sử dụng khoản tạm ứng sai mục đích, không hoàn thành hợp đồng, hoặc vi phạm các cam kết đã thỏa thuận, ngân hàng sẽ hoàn trả khoản tiền đó cho bên hưởng bảo lãnh. Giá trị bảo lãnh thường tương đương hoặc bằng số tiền tạm ứng, và sẽ giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng khi nhà thầu hoàn thành các phần việc tương ứng. Ngân hàng thường yêu cầu nhà thầu ký quỹ hoặc có tài sản đảm bảo trước khi phát hành bảo lãnh này. Phí bảo lãnh được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị bảo lãnh và theo thời hạn cam kết.
Ví dụ, trong một dự án xây dựng tại Việt Nam, chủ đầu tư ký hợp đồng thi công trị giá 100 tỷ đồng với nhà thầu và thanh toán trước 15 tỷ đồng tiền tạm ứng để nhà thầu mua vật tư, huy động thiết bị. Nhà thầu phải yêu cầu ngân hàng (ví dụ: Vietcombank, BIDV, Techcombank) cấp bảo lãnh tiền tạm ứng trị giá 15 tỷ đồng để đảm bảo rằng số tiền này sẽ được sử dụng đúng cho dự án. Nếu nhà thầu không thực hiện dự án hoặc sử dụng tiền sai mục đích, chủ đầu tư có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán toàn bộ hoặc phần chưa hoàn trả của khoản tạm ứng. Khi nhà thầu hoàn thành 50% khối lượng công trình, giá trị bảo lãnh sẽ giảm xuống còn 7,5 tỷ đồng theo thỏa thuận trước đó.
Theo quy định pháp luật Việt Nam, hoạt động bảo lãnh tiền tạm ứng được thực hiện theo Thông tư 11/2022/TT-NHNN ngày 30/09/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cấp và sử dụng bảo lãnh ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 15/11/2022, thay thế Thông tư 07/2015/TT-NHNN. Ngoài ra, các quy định liên quan đến hợp đồng xây dựng và tạm ứng còn được quy định tại Nghị định 37/2015/NĐ-CP về hợp đồng xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, bảo lãnh tiền tạm ứng còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng bảo lãnh và nghĩa vụ dân sự, cùng các quy tắc UCP 600 và URDG 758 trong trường hợp áp dụng thông lệ quốc tế.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ bảo lãnh tiền tạm ứng với bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh bảo hành. Bảo lãnh tiền tạm ứng có đặc thù là phát hành trước hoặc ngay khi hợp đồng có hiệu lực, trong khi bảo lãnh thực hiện hợp đồng phát hành khi bắt đầu thực hiện và bảo lãnh bảo hành phát hành sau khi nghiệm thu. Cần nắm vững cơ chế giảm trừ giá trị bảo lãnh theo tiến độ, điều kiện thanh toán (thường là theo yêu cầu đơn phương) và các trường hợp miễn trách nhiệm bảo lãnh. Ngoài ra, cần lưu ý rằng theo Thông tư 11/2022/TT-NHNN, tỷ lệ ký quỹ tối đa đối với bảo lãnh tiền tạm ứng là 5% giá trị bảo lãnh, đây là điểm khác biệt so với bảo lãnh thực hiện hợp đồng (tối đa 2%).