Bảo lãnh tín thác (Fiduciary Guarantee) là một hình thức bảo lãnh ngân hàng được thiết lập trong khuôn khổ các hoạt động tín thác, trong đó bên bảo lãnh (thường là ngân hàng thương mại) cam kết bảo đảm cho nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ thực hiện công việc của bên được ủy thác đối với bên ủy thác hoặc người thụ hưởng. Đây là công cụ gắn liền với mối quan hệ tín thác – một mối quan hệ pháp lý dựa trên sự tin tưởng, trong đó một bên (người được ủy thác) nhận quyền quản lý, sử dụng tài sản hoặc thực hiện nhiệm vụ thay mặt cho bên kia (người ủy thác) vì lợi ích của người thụ hưởng.
Về bản chất, bảo lãnh tín thác phát sinh khi ngân hàng tham gia vào chuỗi hoạt động tín thác với vai trò trung gian hoặc bên bảo lãnh. Ngân hàng có thể bảo lãnh cho nghĩa vụ hoàn trả tài sản tín thác khi đến hạn, bảo lãnh cho việc thực hiện đúng cam kết quản lý tài sản của người được ủy thác, hoặc bảo đảm giá trị tài sản tín thác trước những rủi ro phát sinh. Phạm vi bảo lãnh có thể bao gồm cả nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do quản lý sai, hoặc nghĩa vụ phân phối lợi ích cho người thụ hưởng. Loại bảo lãnh này đòi hỏi ngân hàng phải thẩm định kỹ lưỡng uy tín, năng lực quản lý tài sản và tính hợp pháp của hoạt động ủy thác. Khi người được ủy thác vi phạm nghĩa vụ, ngân hàng bảo lãnh sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thay thế theo các điều kiện đã cam kết trên hợp đồng bảo lãnh.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, bảo lãnh tín thác thường xuất hiện trong các trường hợp như: ngân hàng bảo lãnh cho công ty quản lý quỹ thực hiện đúng nghĩa vụ quản lý danh mục đầu tư ủy thác của khách hàng; bảo lãnh hoàn trả vốn gốc và lợi nhuận trong các hợp đồng ủy thác đầu tư thông qua ngân hàng; hoặc bảo lãnh cho nghĩa vụ của bên nhận ủy thác trong các giao dịch mua bán, chuyển nhượng bất động sản thông qua hình thức tín thác. Ví dụ, khi khách hàng A ủy thác cho công ty chứng khoán B quản lý danh mục đầu tư 10 tỷ đồng, ngân hàng C có thể phát hành bảo lãnh tín thác để đảm bảo rằng nếu công ty B quản lý sai dẫn đến thua lỗ vượt mức cam kết, ngân hàng C sẽ bồi thường phần thiệt hại cho khách hàng A. Một ví dụ khác là trong hoạt động ủy thác vốn đầu tư vào doanh nghiệp, ngân hàng bảo lãnh cho bên nhận ủy thác hoàn trả vốn khi đến hạn theo cam kết trong hợp đồng tín thác.
Về cơ sở pháp lý, hoạt động bảo lãnh tín thác tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh bởi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, các quy định về hợp đồng tín thác, ủy thác quản lý tài sản được áp dụng theo Bộ luật Dân sự và các nghị định liên quan đến quản lý tài sản tín thác. Nghị định 53/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán cũng liên quan đến phạm vi hoạt động tín thác có bảo lãnh.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ bảo lãnh tín thác với các hình thức bảo lãnh khác như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán hay bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chỗ bảo lãnh tín thác gắn với mối quan hệ ủy thác – tin tưởng, trong đó đối tượng bảo lãnh là nghĩa vụ quản lý, bảo toàn và phân phối tài sản tín thác. Ngoài ra, thí sinh cần nắm vững các điều kiện phát hành bảo lãnh, thời hạn hiệu lực, nghĩa vụ của bên bảo lãnh và quyền đòi người được bảo lãnh bồi hoàn (quyền regres) theo quy định pháp luật hiện hành.