Bảo lãnh vận đơn là một hình thức bảo lãnh ngân hàng được cấp khi vận đơn gốc (Bill of Lading) bị thất lạc, hư hỏng hoặc giao chậm, nhằm giúp người nhận hàng có thể nhận hàng từ người vận chuyển mà không cần xuất trình vận đơn gốc. Đây là cam kết bằng văn bản của ngân hàng bảo lãnh, thay mặt người nhập khẩu (bên được bảo lãnh), bồi thường cho người vận chuyển hoặc người giữ vận đơn hợp pháp trong trường hợp phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu lô hàng.
Theo cơ chế hoạt động, khi người nhập khẩu không có vận đơn gốc do các lý do khách quan như thất lạc trong quá trình chuyển phát, hư hỏng hoặc vận đơn đến chậm so với lô hàng, họ sẽ yêu cầu ngân hàng cấp bảo lãnh vận đơn. Ngân hàng sẽ yêu cầu người được bảo lãnh ký quỹ một khoản tiền nhất định (thường từ 100% đến 150% giá trị lô hàng) hoặc cung cấp tài sản đảm bảo. Đồng thời, ngân hàng cũng có thể yêu cầu bổ sung thư cam kết từ người được bảo lãnh rằng họ sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp bên thứ ba xuất trình vận đơn gốc hợp lệ và yêu cầu quyền sở hữu lô hàng. Người vận chuyển dựa vào bảo lãnh này để giao hàng cho người nhập khẩu, đồng thời được bảo vệ khỏi rủi ro pháp lý khi giao nhầm hàng cho người không có vận đơn gốc.
Trong thực tế ngân hàng Việt Nam, bảo lãnh vận đơn thường được áp dụng trong các giao dịch nhập khẩu hàng hóa qua đường biển, đặc biệt với các lô hàng có giá trị lớn như nguyên vật liệu sản xuất, máy móc thiết bị hoặc hàng tiêu dùng. Ví dụ, một doanh nghiệp nhập khẩu tại TP. Hồ Chí Minh đặt mua nguyên liệu từ đối tác Hàn Quốc, vận đơn gốc bị thất lạc trên đường chuyển phát, lô hàng đã cập cảng nhưng không thể làm thủ tục nhận hàng. Doanh nghiệp đó đề nghị ngân hàng Vietcombank hoặc BIDV cấp bảo lãnh vận đơn với mức ký quỹ 100% giá trị lô hàng, sau khi hoàn tất thủ tục, doanh nghiệp nhận được hàng kịp thời cho dây chuyền sản xuất. Phí bảo lãnh vận đơn thường dao động từ 0,5% đến 2% giá trị bảo lãnh tùy theo quy mô và uy tín của khách hàng.
Về quy định pháp lý, hoạt động bảo lãnh vận đơn của các ngân hàng thương mại Việt Nam chịu sự điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật như Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 (Luật số 95/2015/QH13), Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng bảo lãnh, và các quy định của Ngân hàng Nhà nước về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Ngoài ra, các ngân hàng còn tuân thủ thông lệ quốc tế UCP 600 và ISBP về tín dụng thư, trong đó quy định rõ về việc xử lý khi vận đơn bị mất hoặc giao chậm trong thanh toán quốc tế.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ bảo lãnh vận đơn với các hình thức bảo lãnh khác trong thanh toán quốc tế như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay bảo lãnh thanh toán. Bảo lãnh vận đơn có đặc thù là liên quan trực tiếp đến chứng từ vận tải và quyền sở hữu hàng hóa, không phải là cam kết tài chính thuần túy. Thí sinh cần nắm vững quy trình cấp bảo lãnh, các điều kiện ký quỹ, trách nhiệm của các bên và cách xử lý khi phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu lô hàng giữa người giữ vận đơn gốc và người được bảo lãnh nhận hàng.