Đại lý cho vay ngân hàng về mặt pháp lý là mô hình hợp tác trong đó ngân hàng thương mại (bên ủy quyền) ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân không phải là ngân hàng (bên nhận đại lý) thực hiện một hoặc một số công đoạn trong quy trình cho vay. Mô hình này được xác lập trên cơ sở các quy định pháp luật cụ thể của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc mở rộng kênh phân phối tín dụng đến các đối tượng khách hàng mà ngân hàng khó tiếp cận trực tiếp.
Theo cơ chế đại lý cho vay, phạm vi ủy quyền được giới hạn chặt chẽ theo quy định pháp luật và hợp đồng giữa hai bên. Bên nhận đại lý có thể được ủy quyền thực hiện các công việc như giới thiệu khách hàng, tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn, hỗ trợ giải ngân, thu nợ hoặc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan. Tuy nhiên, đại lý không được tự mình quyết định cho vay, không được thay đổi các điều khoản tín dụng và không được nhận tiền trả nợ trực tiếp từ khách hàng trong nhiều trường hợp theo quy định. Quyền quyết định cho vay, phê duyệt khoản vay và chịu trách nhiệm cuối cùng về rủi ro tín dụng vẫn thuộc về ngân hàng. Bên nhận đại lý được hưởng phí hoa hồng hoặc phí dịch vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền, thường được tính trên giá trị khoản vay hoặc số lượng hợp đồng xử lý thành công.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, mô hình đại lý cho vay được triển khai rộng rãi thông qua nhiều hình thức đa dạng. Nhiều ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng đại lý với các công ty tài chính tiêu dùng để phân phối sản phẩm cho vay mua xe máy, vay tiêu dùng tại khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Một số ngân hàng còn hợp tác với các sàn thương mại điện tử hoặc công ty công nghệ tài chính để cung cấp dịch vụ cho vay trực tuyến, cho vay theo lương thông qua nền tảng số. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể cũng được tiếp cận vốn dễ dàng hơn nhờ mạng lưới đại lý rộng khắp của các công ty tài chính được ngân hàng ủy quyền.
Về cơ sở pháp lý, hoạt động đại lý cho vay được quy định chủ yếu tại Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cho vay tiêu dùng của tổ chức tín dụng, phi tín dụng. Thông tư này sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 18/2019/TT-NHNN và Thông tư 07/2023/TT-NHNN với nhiều điểm mới quan trọng liên quan đến phạm vi, điều kiện của bên nhận đại lý. Bên cạnh đó, các quy định về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật Dân sự 2015 cũng là khung pháp lý nền tảng điều chỉnh mối quan hệ giữa ngân hàng và bên nhận đại lý. Ngân hàng ủy quyền có nghĩa vụ báo cáo, giám sát hoạt động của đại lý và chịu sự thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ đại lý cho vay với các hình thức hợp tác khác như đại lý chi trả, đại lý bảo hiểm qua ngân hàng hay bảo lãnh ngân hàng. Cần nắm vững nguyên tắc cốt lõi: ngân hàng luôn là chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng về khoản vay, đại lý chỉ thực hiện các công việc được ủy quyền theo đúng phạm vi hợp đồng. Lưu ý các điều kiện mà tổ chức, cá nhân làm đại lý phải đáp ứng theo quy định tại các thông tư hướng dẫn hiện hành. Ngoài ra, cần chú ý đến các quy định về phòng chống rửa tiền, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và giới hạn lãi suất cho vay tiêu dùng khi phân tích các bài thi liên quan đến chủ đề này.