Đơn phương chấm dứt hợp đồng tín dụng ngân hàng là quyền của một bên trong quan hệ tín dụng (thông thường là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng) được phép chấm dứt hợp đồng tín dụng đã ký kết mà không cần sự đồng ý của bên còn lại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ đã cam kết. Quyền này vừa được quy định trong hợp đồng tín dụng hai bên ký kết, vừa phù hợp với các quy định pháp luật dân sự và pháp luật về các tổ chức tín dụng hiện hành tại Việt Nam.
Trong thực tế, hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng và khách hàng về việc cho vay, cấp tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu hoặc các hình thức cấp tín dụng khác, theo đó khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả gốc, lãi và các chi phí phát sinh theo thời hạn đã thỏa thuận. Khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán như trả nợ chậm, trả nợ không đầy đủ, cung cấp thông tin sai sự thật, sử dụng vốn vay sai mục đích, hoặc xảy ra các sự kiện vi phạm khác đã ghi nhận trong hợp đồng, ngân hàng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Việc chấm dứt này làm cho toàn bộ dư nợ gốc còn lại trở thành nợ đến hạn ngay lập tức, đồng thời các điều khoản về lãi suất quá hạn, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng theo thỏa thuận. Ngân hàng có thể tiến hành các biện pháp thu hồi nợ, xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật và hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp, ngân hàng phải gửi thông báo bằng văn bản cho khách hàng trước một khoảng thời gian hợp lý và tạo cơ hội để bên vi phạm khắc phục tình trạng vi phạm.
Ví dụ, một khách hàng doanh nghiệp vay 10 tỷ đồng từ ngân hàng để mở rộng sản xuất nhưng liên tục không trả lãi đúng hạn trong 3 tháng liên tiếp và sử dụng vốn vay vào mục đích cá nhân. Ngân hàng sẽ gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu khách hàng khắc phục vi phạm trong một thời hạn nhất định (thường từ 7 đến 30 ngày). Nếu khách hàng không khắc phục, ngân hàng có quyền ban hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng tín dụng, tuyên bố khoản vay đến hạn toàn bộ và tiến hành thu hồi nợ, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ. Một ví dụ khác là khi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất bị hư hỏng nghiêm trọng do thiên tai, mất giá trị đáng kể mà khách hàng không bổ sung tài sản thay thế theo yêu cầu của ngân hàng, ngân hàng cũng có thể kích hoạt quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Về mặt pháp lý, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nói chung được quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, phải thông báo bằng văn bản và cho bên vi phạm thời hạn khắc phục. Trong lĩnh vực ngân hàng, Luật các Tổ chức tín dụng 2024 (Luật số 32/2024/QH15) có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng có các quy định liên quan đến quyền cho vay, thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng. Các thông tư quan trọng cần lưu ý bao gồm Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Thông tư 11/2021/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng với đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng (Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015) vì hai chế định này có điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý khác nhau. Cần nắm vững các điều kiện để áp dụng quyền đơn phương chấm dứt, bao gồm: hợp đồng có hiệu lực, có vi phạm nghiêm trọng, đã thông báo trước bằng văn bản và cho bên vi phạm thời hạn hợp lý để khắc phục. Ngoài ra, cần lưu ý rằng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng tín dụng chỉ phát sinh khi các bên đã thỏa thuận điều khoản này trong hợp đồng và phù hợp với quy định pháp luật, đồng thời cần nắm vững trình tự thủ tục để đảm bảo quyền hợp pháp của ngân hàng khi thu hồi nợ cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng vay.