Giả mạo giấy tờ trong tín dụng ngân hàng là hành vi làm giả, chỉnh sửa hoặc sử dụng trái phép các loại giấy tờ, tài liệu nhằm mục đích vay vốn, cấp tín dụng tại các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể cấu thành tội phạm theo nhiều điều luật khác nhau của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tùy theo vai trò, hành vi và mức độ thiệt hại, người vi phạm có thể bị xử lý với mức phạt tù lên đến 20 năm hoặc thậm chí chung thân.
Các loại giấy tờ thường bị giả mạo trong hoạt động tín dụng bao gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ, sổ hồng), giấy đăng ký kinh doanh, báo cáo tài chính doanh nghiệp, hóa đơn chứng từ mua bán hàng hóa, hợp đồng kinh tế, sao kê tài khoản ngân hàng, giấy xác nhận thu nhập, quyết định bổ nhiệm chức vụ và các giấy tờ tùy thân. Thủ đoạn phổ biến hiện nay là sử dụng phần mềm chỉnh sửa ảnh, công nghệ in ấn hiện đại để tạo giấy tờ giả có độ tinh vi cao, hoặc mua bán giấy tờ giả từ các đối tượng chuyên nghiệp. Đối tượng thực hiện có thể là người vay, người bảo hành, công chứng viên, kế toán viên hoặc thậm chí là cán bộ tín dụng ngân hàng có sự thông đồng. Mục đích cuối cùng là đáp ứng các điều kiện về khả năng trả nợ, giá trị tài sản bảo đảm hoặc uy tín pháp lý mà thực tế khách hàng không có, qua đó chiếm đoạt tiền của tổ chức tín dụng.
Trong thực tế ngân hàng Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ án điển hình về giả mạo giấy tờ tín dụng gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng. Nổi bật như vụ án tại Ngân hàng TMCP Đại Tín (Trust Bank) giai đoạn 2012, các vụ việc tại Agribank với hàng loạt khoản vay bằng sổ đỏ giả, hay đại án Phạm Công Danh tại Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam liên quan đến việc sử dụng tài liệu giả để rút tiền và cấp tín dụng trái phép. Một ví dụ phổ biến là khách hàng cá nhân sử dụng sổ đỏ giả hoặc sổ đỏ thật nhưng đã thế chấp nhiều nơi để vay hàng tỷ đồng tại nhiều ngân hàng. Doanh nghiệp cũng thường làm giả báo cáo tài chính, làm tròn doanh thu, lợi nhuận để vay số tiền lớn vượt quá khả năng tài chính thực tế, dẫn đến nợ xấu khi không trả được nợ.
Về khung pháp lý, ngoài Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 về tội vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng (áp dụng với cán bộ ngân hàng vi phạm quy trình thẩm định), hành vi này còn có thể bị truy cứu theo Điều 174 về tội làm giả và sử dụng con dấu, tài liệu giả (áp dụng với người làm giả giấy tờ), Điều 342 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (áp dụng với người vay chiếm đoạt tiền vay), và Điều 359 về tội nhận hối lộ nếu có sự thông đồng. Nghị định 88/2019/NĐ-CP (nay được thay thế bởi Nghị định 176/2024/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng có các quy định xử phạt đối với tổ chức tín dụng để xảy ra tình trạng cho vay dựa trên giấy tờ giả mạo. Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng yêu cầu cán bộ tín dụng phải thẩm định kỹ lưỡng giấy tờ pháp lý và tài sản bảo đảm trước khi quyết định cho vay.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ giữa hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng dân sự với hành vi hình sự giả mạo giấy tờ; nắm vững các điều luật liên quan trong Bộ luật Hình sự 2015 để áp dụng đúng tình tiết; hiểu rõ quy trình thẩm định tín dụng để nhận diện các dấu hiệu rủi ro giả mạo; đặc biệt ghi nhớ rằng mức phạt tù theo Điều 341 có thể lên đến 7 năm với khoản 1, và cao hơn nhiều đối với Điều 174, Điều 342 tùy theo giá trị thiệt hại và tính chất vụ án.