Gian lận tín dụng pháp lý là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai lệch, làm giả giấy tờ hoặc sử dụng các thủ đoạn gian dối khác nhằm mục đích được cấp tín dụng, sử dụng vốn vay hoặc thực hiện các giao dịch tín dụng tại tổ chức tín dụng. Hành vi này không chỉ vi phạm các quy định về hoạt động tín dụng mà còn cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự, tùy theo mức độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù nghiêm trọng.
Theo quy định pháp luật, khi đề nghị cấp tín dụng, khách hàng phải cung cấp trung thực các thông tin về thu nhập, tài sản đảm bảo, mục đích sử dụng vốn và lịch sử tín dụng. Việc cố ý bịa đặt, làm giả hồ sơ hoặc che giấu thông tin quan trọng được xem là gian lận tín dụng, khác hoàn toàn với việc vay hợp pháp nhưng sau đó mất khả năng thanh toán do khách quan. Pháp luật ngân hàng quy định rõ trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong việc thẩm định, xác minh thông tin khách hàng trước khi cấp tín dụng nhằm phòng ngừa rủi ro. Đồng thời, khách hàng phải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của thông tin đã cung cấp theo quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng. Mức độ xử lý pháp lý phụ thuộc vào tính chất hành vi, giá trị tài sản bị chiếm đoạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Ví dụ, một cá nhân nộp hồ sơ vay mua nhà với hợp đồng lao động giả, bảng lương khống và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc sở hữu của mình để được giải ngân. Sau khi nhận tiền, người này chuyển sang mục đích sử dụng khác và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hành vi trên cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại phải tuân thủ quy trình cấp tín dụng chặt chẽ theo Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và áp dụng các biện pháp xác minh thông tin khách hàng nghiêm ngặt. Các trường hợp phát hiện gian lận thường được ngân hàng chuyển hồ sơ cho cơ quan công an để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Các văn bản pháp lý quan trọng liên quan bao gồm Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với Điều 174 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 206 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại Điều 132 về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối cũng được áp dụng để tuyên hợp đồng tín dụng vô hiệu. Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 có hiệu lực thi hành và các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro. Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 cũng có liên quan chặt chẽ thông qua quy định về nhận biết khách hàng, báo cáo giao dịch đáng ngờ.
Người ôn thi ngân hàng cần phân biệt rõ giữa "không trả được nợ" do khách quan và "gian lận tín dụng" có chủ đích chiếm đoạt. Trường hợp khách hàng vay hợp pháp nhưng gặp khó khăn tài chính là quan hệ dân sự thuần túy, không cấu thành tội phạm. Cần nắm vững cấu thành tội phạm tại Điều 174 và Điều 206 Bộ luật Hình sự để xác định khung hình phạt tương ứng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Đặc biệt, hiểu rõ quy trình thẩm định tín dụng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN và các văn bản sửa đổi là nội dung trọng tâm trong các kỳ thi chuyên ngành tín dụng – ngân hàng.