Hình thức vô hiệu hợp đồng tín dụng là các căn cứ pháp lý được quy định trong pháp luật dân sự để xác định một hợp đồng tín dụng không phát sinh hiệu lực pháp lý ngay từ thời điểm giao kết. Theo đó, khi hợp đồng rơi vào một trong các trường hợp vô hiệu, hợp đồng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung đã thỏa thuận, đồng thời các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu và giải quyết hậu quả pháp lý theo quy định.
Căn cứ vào Điều 117 đến Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng tín dụng bị tuyên vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp: vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội; giao dịch do người không có quyền đại diện, vượt quá phạm vi đại diện hoặc không có thẩm quyền xác lập; giao dịch giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác; giao dịch do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép; người xác lập giao dịch không có năng lực hành vi dân sự; giao dịch không tuân thủ quy định về hình thức theo quy định pháp luật; và giao dịch xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba. Đối với hợp đồng tín dụng, hình thức văn bản là yêu cầu bắt buộc, do đó nếu không tuân thủ hình thức này thì hợp đồng có thể bị vô hiệu. Khi hợp đồng tín dụng bị tuyên vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường theo Điều 130, 131 và 132 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, có nhiều trường hợp hợp đồng tín dụng bị tuyên vô hiệu, chẳng hạn khách hàng cá nhân sử dụng giấy tờ giả mạo (giấy chứng nhận kết hôn, sổ đỏ, hợp đồng lao động...) để vay vốn thì hợp đồng vô hiệu do giao dịch giả tạo theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015. Tương tự, nếu người vay bị ép buộc ký hợp đồng dưới sự đe dọa, lừa dối của bên thứ ba, hợp đồng cũng bị vô hiệu theo Điều 120. Một ví dụ khác là hợp đồng tín dụng được giao kết bằng miệng hoặc hình thức khác mà không lập thành văn bản theo quy định thì cũng bị vô hiệu do vi phạm hình thức. Ngoài ra, nếu tổ chức tín dụng cho vay vượt quá phạm vi hoạt động được cấp phép, hoặc áp dụng lãi suất cho vay trái quy định Ngân hàng Nhà nước thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu một phần hoặc toàn bộ.
Về hệ thống văn bản pháp luật liên quan, ngoài Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp đồng tín dụng còn chịu sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Thông tư liên tịch số 04/2003/TTLT-NHNN-BTP hướng dẫn về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 06/2017/TT-NHNN, Thông tư 16/2018/TT-NHNN, Thông tư 10/2019/TT-NHNN và Thông tư 13/2020/TT-NHNN). Đồng thời, Bộ luật Hình sự 2015 cũng quy định về trách nhiệm hình sự đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) liên quan đến hợp đồng tín dụng vô hiệu.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ giữa "vô hiệu hợp đồng" và "hủy bỏ hợp đồng" vì đây là hai khái niệm thường bị nhầm lẫn: vô hiệu nghĩa là hợp đồng không phát sinh hiệu lực từ đầu, còn hủy bỏ là hợp đồng đã có hiệu lực nhưng bị chấm dứt về sau theo thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án. Bên cạnh đó, cần nắm vững quy định về hình thức bắt buộc bằng văn bản của hợp đồng tín dụng, các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu (hoàn trả, bồi thường thiệt hại, xử lý tài sản đảm bảo). Trong các đề thi nghiệp vụ ngân hàng, câu hỏi về vô hiệu hợp đồng tín dụng thường xoay quanh tình huống giả mạo hồ sơ, cho vay không đúng thẩm quyền, vi phạm tỷ lệ đảm bảo hoặc vi phạm quy định về lãi suất, do đó thí sinh cần liên hệ thực tiễn phối hợp giữa quy định dân sự và quy định chuyên ngành ngân hàng.