Hợp đồng dịch vụ là gì?

Service Contract Thuế & Pháp luật ~3 phút đọc

Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện một công việc nhất định cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ. Đây là loại hợp đồng mang tính chất thực hiện công việc, không nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay tạo ra sản phẩm vật chất cụ thể, mà tập trung vào việc cung cấp các hoạt động, công việc hoặc lợi ích cho bên sử dụng.

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng dịch vụ được điều chỉnh bởi các điều từ Điều 513 đến Điều 522. Bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện công việc đã cam kết với chất lượng, thời hạn và phương thức như đã thỏa thuận, đồng thời phải bảo quản và bàn giao tài liệu, phương tiện được giao liên quan đến công việc. Bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán tiền công, tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện công việc và nhận kết quả dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ chấm dứt khi công việc được hoàn thành, khi hết thời hạn theo thỏa thuận hoặc khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định pháp luật. Trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ không thể hoàn thành công việc vì lỗi của mình, bên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng.

Trong lĩnh vực ngân hàng Việt Nam, hợp đồng dịch vụ được ứng dụng rất phổ biến và đa dạng. Các ngân hàng thương mại thường ký hợp đồng dịch vụ với khách hàng doanh nghiệp để cung cấp các dịch vụ như: dịch vụ quản lý tài khoản lương, dịch vụ thu hộ - chi hộ, dịch vụ bảo quản tài sản, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ ủy thác và nhận ủy thác. Ngoài ra, các ngân hàng còn ký hợp đồng dịch vụ với các tổ chức trung gian như công ty bảo hiểm để phân phối sản phẩm bảo hiểm liên kết, với công ty chứng khoán để cung cấp dịch vụ lưu ký, với các công ty công nghệ để phát triển nền tảng ngân hàng số. Chẳng hạn, khi một doanh nghiệp ký hợp đồng dịch vụ với ngân hàng để thực hiện trả lương cho nhân viên qua tài khoản, đó là một dạng hợp đồng dịch vụ thanh toán, trong đó ngân hàng cam kết thực hiện việc chuyển tiền hàng tháng và nhận phí dịch vụ tương ứng.

Về mặt pháp lý, ngoài Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 513-522), hợp đồng dịch vụ trong hoạt động ngân hàng còn chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành. Các Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước như Thông tư số 17/2014/TT-NHNN hướng dẫn dịch vụ thẻ ngân hàng, Thông tư số 21/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động cho thuê và dịch vụ liên quan đến kho bãi của tổ chức tín dụng, Thông tư số 04/2020/TT-NHNN về dịch vụ trung gian thanh toán... đều có những quy định cụ thể liên quan đến hợp đồng dịch vụ. Bên cạnh đó, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các nghị định hướng dẫn cũng là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc ký kết và thực hiện các hợp đồng dịch vụ giữa ngân hàng với khách hàng.

Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ hợp đồng dịch vụ với các loại hợp đồng tương tự như hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng ủy thác hay hợp đồng lao động. Hợp đồng dịch vụ tập trung vào việc thực hiện công việc mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu, kết quả công việc thường là vô hình hoặc mang tính dịch vụ hơn là sản phẩm vật chất. Ngoài ra, cần nắm vững các nội dung cơ bản của hợp đồng dịch vụ bao gồm: đối tượng hợp đồng, giá dịch vụ, thời hạn thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên, điều khoản bồi thường thiệt hại, điều khoản chấm dứt hợp đồnggiải quyết tranh chấp. Trong các kỳ thi tuyển dụng vào ngân hàng, câu hỏi về hợp đồng dịch vụ thường xuất hiện trong phần kiến thức pháp luật, đặc biệt liên quan đến các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, thẻ, chuyển tiền và các dịch vụ trung gian.

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8