Hợp đồng tín dụng bị vô hiệu một phần là trường hợp pháp lý trong đó Tòa án nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền tuyên bố một hoặc một số điều khoản cụ thể trong hợp đồng tín dụng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc không đáp ứng điều kiện có hiệu lực, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn được công nhận có hiệu lực pháp lý và tiếp tục được thực hiện giữa các bên.
Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, nguyên tắc vô hiệu một phần giao dịch được áp dụng khi nội dung vô hiệu có thể tách bạch, không ảnh hưởng đến phần còn lại của hợp đồng. Trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, các điều khoản thường bị tuyên vô hiệu một phần bao gồm: điều khoản về lãi suất vượt quá trần lãi suất theo quy định (đặc biệt trước khi có quy định cho phép thỏa thuận theo Luật các tổ chức tín dụng 2024), điều khoản về phạt vi phạm không hợp lý, điều khoản miễn trừ trách nhiệm bất hợp lý của bên cho vay, hoặc điều khoản về tài sản bảo đảm không đúng quy định pháp luật. Khi một điều khoản bị vô hiệu, các bên sẽ không phải thực hiện phần nội dung đó và không được hưởng lợi ích phát sinh từ điều khoản bị vô hiệu; đồng thời phải hoàn trả những gì đã nhận theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp các điều khoản bị vô hiệu có tính chất quyết định, ảnh hưởng đến bản chất và mục đích chính của hợp đồng tín dụng thì toàn bộ hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu.
Ví dụ thực tế: Khách hàng A vay ngân hàng B 1 tỷ đồng với lãi suất 20%/năm, trong khi trần lãi suất áp dụng tại thời điểm đó là 15%/năm. Khi có tranh chấp, Tòa án có thể tuyên vô hiệu phần lãi suất vượt quá 5% (tức phần chênh lệch giữa lãi suất thỏa thuận và trần lãi suất), nhưng vẫn công nhận hiệu lực của hợp đồng đối với phần vốn gốc 1 tỷ đồng và phần lãi suất 15% hợp pháp. Một ví dụ khác là trường hợp điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng quá cao (ví dụ 10%/ngày trên số tiền chậm trả), Tòa án có thể tuyên giảm mức phạt theo quy định của Bộ luật Dân sự, và phần điều khoản phạt bị giảm bớt đó được coi là vô hiệu một phần.
Theo quy định tại Điều 130 và Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự vô hiệu một phần thì phần còn lại vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp phần còn lại không thể tồn tại độc lập. Đối với hợp đồng tín dụng, các văn bản pháp lý liên quan bao gồm: Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 124, 125, 127, 130, 131), Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2024), Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (đã được thay thế), Nghị định 21/2021/NĐ-CP về thi hành một số quy định của Bộ luật Dân sự, cùng các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay. Ngoài ra, các quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân và án lệ cũng là nguồn tham khảo quan trọng giúp hiểu rõ cách áp dụng nguyên tắc vô hiệu một phần trong thực tiễn tín dụng.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng vô hiệu một phần khác với vô hiệu toàn bộ hợp đồng tín dụng; vô hiệu một phần không đồng nghĩa với việc xóa bỏ toàn bộ quan hệ tín dụng mà chỉ loại bỏ một số điều khoản cụ thể. Cần phân biệt giữa "vô hiệu" (không có hiệu lực từ đầu) với "hủy bỏ" hoặc "đình chỉ thực hiện" hợp đồng. Đặc biệt, khi luyện thi, thí sinh cần nắm vững nguyên tắc hoàn trả tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015: các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại, bên không có lỗi có quyền yêu cầu bên có lỗi bồi thường. Ngoài ra, cần chú ý đến sự thay đổi chính sách lãi suất cho vay qua các thời kỳ, vì trước đây Ngân hàng Nhà nước áp trần lãi suất cho vay nhưng Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã có sự điều chỉnh quan trọng về vấn đề này.