Ngân hàng thương mại cổ phần vs Nhà nước pháp lý là gì?

Joint-Stock vs State-Owned Commercial Bank Legal Pháp lý ~13 phút đọc

Ngân hàng thương mại cổ phần vs Ngân hàng thương mại nhà nước — Khía cạnh pháp lý là gì?

Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần (Joint-Stock Commercial Bank) và ngân hàng thương mại nhà nước (State-Owned Commercial Bank) là hai loại hình tổ chức tín dụng được pháp luật quy định rõ ràng về tư cách pháp nhân, cơ cấu sở hữu và mô hình quản trị. Việc phân biệt chính xác hai loại hình này là kiến thức nền tảng cho bất kỳ ai theo đuổi lĩnh vực tài chính – ngân hàng, đặc biệt trong các kỳ thi chứng chỉ hành nghề, thi tuyển công chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hay thi nội bộ ngân hàng. Sự khác biệt không chỉ nằm ở nhãn hiệu "nhà nước" hay "cổ phần" mà thể hiện sâu ở hình thức sở hữu vốn điều lệ, cơ quan quản lý cao nhất, mục tiêu hoạt động, cơ chế bổ nhiệm nhân sự và các giới hạn pháp lý áp dụng kèm theo.

Về bản chất pháp lý, ngân hàng thương mại cổ phần là doanh nghiệp được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, do các cổ đông sở hữu. Loại hình này chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Doanh nghiệp năm 2020, có Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ quan quyết định cao nhất, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý và Ban Kiểm soát (BKS) giám sát. Ngược lại, ngân hàng thương mại nhà nướcdoanh nghiệp nhà nước (DNNN) hạng đặc biệt, do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động theo mô hình Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc (Giám đốc) cùng các Phó Tổng Giám đốc; không có ĐHĐCĐ mà chịu sự quản lý trực tiếp của Chính phủ, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và NHNN theo Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp năm 2021.

Trong thực tế ngân hàng Việt Nam hiện nay, phần lớn các ngân hàng thương mại đều hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, trong đó có những ngân hàng vẫn duy trì tỷ lệ cổ phần chi phối của Nhà nước (thường trên 50%) nhưng về pháp lý vẫn là công ty cổ phần, không phải ngân hàng thương mại nhà nước. Đây là điểm rất dễ gây nhầm lẫn cho người mới học: Ví dụ, Ngân hàng A tuy Nhà nước nắm giữ hơn 65% vốn điều lệ nhưng vẫn tổ chức ĐHĐCĐ hằng năm, cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán, HĐQT do cổ đông bầu ra. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại nhà nước thuần túy (Nhà nước giữ 100% vốn) chỉ còn rất ít, tiêu biểu là các ngân hàng hoạt động với sứ mệnh chính trị - xã hội như Ngân hàng C. Vì vậy, tiêu chí phân loại không phải "có vốn nhà nước hay không" mà là "Nhà nước nắm bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ và hoạt động theo mô hình nào".

Thuật ngữ tiếng Anh: Joint-Stock Commercial Bank vs State-Owned Commercial Bank (Legal Aspects) Lĩnh vực: Pháp lý ngân hàng

Đặc điểm và phân loại

Để phân biệt rõ hai loại hình, người học cần nắm bảng so sánh dưới đây:

Tiêu chí Ngân hàng thương mại cổ phần Ngân hàng thương mại nhà nước
Hình thức sở hữu vốn điều lệ Vốn điều lệ chia thành cổ phần bằng nhau, do nhiều cổ đông sở hữu (gồm cả Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước) Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Tư cách pháp lý Công ty cổ phần hoạt động đa ngành, có con dấu, trụ sở, tài sản độc lập; có thể niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên UPCoM DNNN hạng đặc biệt, là pháp nhân độc lập, không phát hành cổ phần ra bên ngoài
Cơ quan quyết định cao nhất Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), họp thường niên ít nhất một lần trong 4 tháng đầu năm tài chính Hội đồng thành viên (HĐTV) do Chủ sở hữu vốn nhà nước bổ nhiệm
Cơ quan quản lý Hội đồng quản trị (HĐQT), ít nhất 5 thành viên, tối đa 11 thành viên, có ít nhất 1/3 thành viên độc lập Chủ tịch HĐTV và Tổng Giám đốc (Giám đốc); không có HĐQT
Cơ quan giám sát Ban Kiểm soát (BKS), ít nhất 3 thành viên, có thành viên chuyên trách và thành viên là kiểm toán viên Kiểm soát viên hoặc Ban Kiểm soát do Chủ sở hữu vốn nhà nước bổ nhiệm
Cơ chế bổ nhiệm nhân sự cấp cao Chủ tịch HĐQT do HĐQT bầu; Tổng Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm sau khi được Thống đốc NHNN chấp thuận bằng văn bản Chủ tịch HĐTV, Tổng Giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Thống đốc NHNN và cơ quan chức năng liên quan
Mục tiêu hoạt động Tối đa hóa lợi nhuận hợp lý cho cổ đông, đảm bảo an toàn hệ thống, tuân thủ Basel II/III Vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội (cho vay chính sách, phát triển nông nghiệp - nông thôn), vừa bảo toàn và phát triển vốn nhà nước
Giới hạn sở hữu cổ phần Cổ đông cá nhân không quá 5%, cổ đông tổ chức không quá 15% (theo Điều 55 Luật Các TCTD), trừ một số trường hợp đặc biệt Không phát hành cổ phần; toàn bộ vốn chỉ do Nhà nước nắm giữ
Niêm yết/giao dịch Có thể niêm yết trên sàn chứng khoán (HOSE, HNX) hoặc đăng ký trên UPCoM Không niêm yết; không phát hành cổ phần ra công chúng
Văn bản pháp lý chính Luật Các TCTD 2010 (sửa đổi 2017), Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Chứng khoán 2019 Luật Các TCTD 2010 (sửa đổi 2017), Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp 2021, Luật Doanh nghiệp 2020 (phần liên quan)
Chế độ báo cáo Báo cáo SBV định kỳ, báo cáo UBCKNN (nếu niêm yết), báo cáo ĐHĐCĐ hằng năm Báo cáo NHNN, Chính phủ, Quốc hội theo định kỳ do Chính phủ quy định

Ngoài bảng trên, theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN về tổ chức và quản trị ngân hàng thương mại, các quy định về số lượng thành viên HĐQT, BKS, tiêu chuẩn nhân sự, nhiệm kỳ và quyền hạn đều áp dụng đồng thời cho cả hai loại hình, nhưng cách thức bổ nhiệm, miễn nhiệm và phê duyệt lại khác hẳn. Chẳng hạn, Chủ tịch HĐQT của ngân hàng thương mại cổ phần phải được Thống đốc NHNN phê chuẩn bằng văn bản (trừ trường hợp cổ phần nhà nước dưới 50%), trong khi đối với ngân hàng thương mại nhà nước, việc bổ nhiệm phải theo quy trình do Chính phủ quy định tại Nghị định 71/2013/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 140/2020/NĐ-CP).

Ví dụ thực tế trong ngành ngân hàng

Ví dụ 1: Phân loại sau cổ phần hóa của hai ngân hàng lớn

Ngân hàng A là ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ khoảng 200.000 tỷ đồng (số liệu minh họa), trong đó Nhà nước nắm giữ khoảng 65% thông qua cơ quan được Chính phủ ủy quyền quản lý vốn nhà nước. Mặc dù Nhà nước vẫn chi phối, Ngân hàng A vẫn hoạt động theo mô hình công ty cổ phần: có ĐHĐCĐ thường niên, cổ phiếu niêm yết, HĐQT 9 thành viên gồm 3 thành viên độc lập, BKS 5 thành viên. Đây là trường hợp điển hình cho thấy "có vốn nhà nước" không đồng nghĩa với "ngân hàng thương mại nhà nước".

Ngược lại, Ngân hàng C là ngân hàng thương mại nhà nước 100% vốn nhà nước, không niêm yết, hoạt động với sứ mệnh phục vụ "tam nông" (nông nghiệp, nông dân, nông thôn). Cơ cấu quản trị gồm HĐTV 7 thành viên do Thủ tướng bổ nhiệm, Tổng Giám đốc do HĐTV trình Thủ tướng bổ nhiệm, không có ĐHĐCĐ. Toàn bộ lợi nhuận sau thuế, sau khi trích lập các quỹ, được phân phối theo cơ chế riêng; ngân hàng này có nghĩa vụ thực hiện các chương trình tín dụng chính sách theo chỉ đạo của Chính phủ với lãi suất ưu đãi, ví dụ gói cho vay hỗ trợ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao lên tới 50.000 tỷ đồng với lãi suất chỉ 4%/năm (số liệu minh họa).

Ví dụ 2: Ảnh hưởng đến quản trị và chính sách nhân sự

Tại Ngân hàng B (mô hình cổ phần, vốn điều lệ khoảng 60.000 tỷ đồng minh họa), Chủ tịch HĐQT phải được Thống đốc NHNN phê chuẩn trước khi đảm nhiệm vị trí. Tiêu chuẩn bắt buộc gồm: có bằng đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp (tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật, kế toán), có ít nhất 5 năm kinh nghiệm quản lý cấp cao tại tổ chức tín dụng, không vi phạm pháp luật về phòng chống rửa tiền, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu công việc. Quy trình này áp dụng tương tự cho Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc phụ trách nghiệp vụ và Kế toán trưởng.

Trong khi đó, tại Ngân hàng D (mô hình nhà nước 100% vốn, vốn điều lệ khoảng 55.000 tỷ đồng minh họa), Chủ tịch HĐTV do Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của Thống đốc NHNN và Bộ Nội vụ, nhiệm kỳ 5 năm. Tổng Giám đốc phải qua khâu đánh giá nhân sự của Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ trước khi được bổ nhiệm. Sự khác biệt này thể hiện rõ đặc thù quản trị của DNNN hạng đặc biệt: chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn từ các cơ quan Đảng và Nhà nước, đồng thời chịu áp lực thực hiện chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà Chính phủ giao, không đơn thuần vì lợi nhuận.

Ví dụ 3: Giới hạn sở hữu cổ phần tại ngân hàng thương mại cổ phần

Một cổ đông cá nhân muốn mua vào 7% cổ phần của Ngân hàng E (cổ phần, vốn điều lệ 30.000 tỷ đồng minh họa) thì phải xin chấp thuận trước của NHNN, vì vượt mức giới hạn 5% quy định tại Điều 55 Luật Các TCTD. Một cổ đông tổ chức cũng chỉ được sở hữu tối đa 15% trừ khi thuộc đối tượng đặc biệt. Trường hợp vượt mức sẽ bị coi là cổ đông lớn, phải thông báo và chịu sự giám sát đặc biệt, đồng thời phải trình Thống đốc NHNN chấp thuận bằng văn bản. Hồ sơ cần gồm: đơn đề nghị, giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý, báo cáo tài chính 2 năm gần nhất, phương án nguồn vốn, kế hoạch sau đầu tư. Quy trình xem xét thường kéo dài 45-60 ngày làm việc. Đây là điểm KHÔNG có ở ngân hàng thương mại nhà nước vì bản thân không phát hành cổ phần ra bên ngoài — câu hỏi trắc nghiệm "giới hạn sở hữu cổ phần có áp dụng cho ngân hàng thương mại nhà nước không?" thì đáp án là KHÔNG, vì không có cổ phần để giới hạn.

Ngân hàng thương mại cổ phần vs Nhà nước pháp lý trong các ngôn ngữ khác

Ngôn ngữ Thuật ngữ Phiên âm
Tiếng Anh Joint-stock commercial bank vs State-owned commercial bank (legal aspects) /dʒɔɪnt stɒk kəˈmɜːʃəl bæŋk vs steɪt ˈəʊnd kəˈmɜːʃəl bæŋk ˈliːɡəl ˈæspekts/
Tiếng Nhật 株式会社商業銀行 vs 国有商業銀行(法的側面) Kabushiki-gaisha shōgyō ginkō vs Kokuyū shōgyō ginkō (hōteki sokumen)
Tiếng Hàn 주식회사 상업은행 vs 국유 상업은행 (법률 측면) Jusikhoesa sang-eop eunhaeng vs Gukyu sang-eop eunhaeng (beomnyul cheupmyeon)
Tiếng Trung 股份制商业银行 vs 国有商业银行(法律层面) Gǔfènzhì shāngyè yínháng vs Guóyǒu shāngyè yínháng (fǎlǜ céngmiàn)
Tiếng Tây Ban Nha Banco comercial por acciones vs Banco comercial estatal (aspectos legales) /ˈbaŋko komeɾˈθjal poɾ akˈθjones vs /ˈbaŋko komeɾˈθjal estaˈtal asˈpektoz leˈɣales/

Câu hỏi thường gặp

Ngân hàng thương mại cổ phần có phải là doanh nghiệp nhà nước không?

Không hoàn toàn. Một ngân hàng thương mại cổ phần chỉ trở thành doanh nghiệp nhà nước khi Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và hoạt động theo mô hình HĐTV, Tổng Giám đốc. Trường hợp Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (trên 50%) nhưng vẫn còn cổ đông khác (tổ chức, cá nhân) thì đó vẫn là công ty cổ phần có vốn nhà nước, không phải doanh nghiệp nhà nước. Pháp luật phân biệt rõ điều này: Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp 2021 chỉ áp dụng cho trường hợp Nhà nước nắm giữ 100% vốn, còn Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Chứng khoán 2019 chi phối mô hình công ty cổ phần. Đây là điểm rất hay xuất hiện trong đề thi: "Nhà nước nắm cổ phần chi phối có làm thay đổi loại hình?" thì câu trả lời là không.

Khi nào cần biết về sự khác biệt giữa hai loại hình này?

Bạn cần nắm rõ sự khác biệt này trong bốn trường hợp phổ biến. Thứ nhất, khi ôn thi chứng chỉ hành nghề chứng khoán, thi tuyển công chức NHNN hoặc thi nội bộ ngân hàng: các câu hỏi trắc nghiệm thường hỏi về cơ quan quản lý, giới hạn sở hữu cổ phần, cơ quan phê chuẩn nhân sự. Thứ hai, khi xây dựng hồ sơ xin chấp thuận mua cổ phần vượt mức 5% hoặc 15%, bạn phải áp dụng đúng Điều 55 Luật Các TCTD và Thông tư 13/2018/TT-NHNN. Thứ ba, khi soạn thảo nội quy công ty, báo cáo quản trị hoặc tư vấn pháp lý cho khách hàng doanh nghiệp, việc xác định đúng loại hình giúp áp dụng đúng văn bản pháp luật, tránh vi phạm. Thứ tư, khi đánh giá rủi ro tín dụng hoặc phân tích đối tác, bạn cần hiểu mô hình quản trị của ngân hàng đối tác để dự báo khả năng chịu áp lực chính trị - xã hội.

Sự khác biệt này ảnh hưởng thế nào đến khách hàng gửi tiền và đi vay?

Về quyền lợi của người gửi tiền, pháp luật đảm bảo mức bảo hiểm tiền gửi tối đa 125 triệu đồng/người/tổ chức tín dụng theo Nghị định 131/2021/NĐ-CP — áp dụng đồng thời cho cả hai loại hình nên về bảo hiểm không có khác biệt. Tuy nhiên, ngân hàng thương mại cổ phần thường có biên lợi nhuận hẹp hơn vì chịu áp lực cổ tức, nên sản phẩm tiền gửi có thể cạnh tranh hơn (lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng có thể chênh 0,2-0,5%/năm so với NHTM nhà nước). Ngược lại, ngân hàng thương mại nhà nước thường duy trì lãi suất ổn định hơn do đặc thù thực hiện chính sách tiền tệ, ít chạy theo cạnh tranh thị phần nhưng lại có lợi thế về uy tín và mạng lưới rộng khắp 63 tỉnh thành. Đối với khách hàng đi vay, ngân hàng thương mại nhà nước có thể áp dụng mức lãi suất chính sách ưu đãi cho một số đối tượng (doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, hộ sản xuất nông nghiệp), trong khi ngân hàng cổ phần chủ yếu cho vay theo cơ chế thị trường. Khách hàng nên cân nhắc mục tiêu tài chính (sinh lời hay an toàn, dễ

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8

D

Doanh nghiệp nhà nước

Thuế & Tài chính công

Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần chi phối, hoạt động trong các...

L

Luật Các tổ chức tín dụng

Pháp lý ngân hàng

Luật Các tổ chức tín dụng là đạo luật quan trọng của Việt Nam quy định về thành lập, tổ chức, hoạt đ...

N

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Pháp lý ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tên tiếng Anh: State Bank of Vietnam - SBV) là cơ quan ngang bộ thuộc C...

N

Ngân hàng thương mại

Pháp lý ngân hàng

Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luậ...

N

Ngân hàng thương mại cổ phần

Tổng quan ngân hàng

Ngân hàng thương mại cổ phần là loại hình ngân hàng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, tro...

P

Phân loại tổ chức tín dụng

Kiểm toán & Tuân thủ

Xếp loại TCTD theo nhóm mức độ an toàn hoạt động theo hệ thống xếp hạng của NHNN, làm cơ sở cho can ...

T

Thông tư hướng dẫn

Thuế & Pháp luật

Văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành để hướng dẫn thi hành nghị định và luật.

Đ

Đại hội đồng cổ đông

Quản trị doanh nghiệp

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty cổ phần, bao gồm cả các ngân hàng thư...