Ngân sách cấp xã là cấp ngân sách thấp nhất trong hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam, trực thuộc ngân sách cấp huyện và do Ủy ban nhân dân cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) trực tiếp quản lý, điều hành. Đây là công cụ tài chính quan trọng giúp chính quyền cơ sở chủ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh và phục vụ đời sống nhân dân ngay tại địa bàn dân cư.
Ngân sách cấp xã được hình thành từ nhiều nguồn thu khác nhau, bao gồm: phần ngân sách các cấp được phân cấp cho xã theo tỷ lệ phần trăm (%) quy định đối với các khoản thuế, phí, lệ phí phát sinh trên địa bàn; thu từ tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thu từ hoạt động dịch vụ, sản xuất kinh doanh tại địa phương; các khoản đóng góp tự nguyện hợp pháp và nguồn bổ sung từ ngân sách cấp trên khi cân đối thu - chi không đảm bảo. Về phía chi, ngân sách cấp xã chủ yếu phục vụ cho các khoản chi thường xuyên như lương, phụ cấp cho cán bộ, công chức cấp xã; chi cho sự nghiệp giáo dục (trường mầm non, tiểu học), y tế (trạm y tế), văn hóa - thể thao; chi đầu tư xây dựng cơ bản quy mô nhỏ như đường giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, hệ thống điện chiếu sáng; chi cho an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai và chi quản lý hành chính cấp xã. Nguyên tắc hoạt động của ngân sách cấp xã là tự cân đối thu chi, có sự hỗ trợ từ ngân sách cấp trên thông qua cơ chế bổ cân đối hoặc bổ sung có mục tiêu, đặc biệt đối với các xã nghèo, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo chính sách của Chính phủ.
Ví dụ thực tế tại Việt Nam, tại một xã thuộc huyện nông thôn tỉnh Đồng Nai, ngân sách cấp xã trong năm 2023 có tổng thu khoảng 25 tỷ đồng, trong đó bao gồm khoảng 15 tỷ đồng từ nguồn tiền sử dụng đất khi địa phương có các dự án khu dân cư mới, khoảng 8 tỷ đồng từ phần ngân sách phân cấp các khoản thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ và 2 tỷ đồng bổ sung cân đối từ ngân sách huyện. Khoản thu này được sử dụng để chi trả lương cho 18 cán bộ công chức xã (khoảng 3 tỷ đồng), duy tu bảo dưỡng 5 km đường giao thông nông thôn (khoảng 4 tỷ đồng), hỗ trợ hoạt động cho trạm y tế và các trường mầm non, tiểu học trên địa bàn (khoảng 6 tỷ đồng), còn lại dành cho các hoạt động an ninh, phòng chống dịch bệnh và quản lý hành chính. Trường hợp ngược lại, một phường nội thành thuộc quận trung tâm Hà Nội có ngân sách cấp xã lên tới hàng trăm tỷ đồng mỗi năm do thu từ đất đai và phí dịch vụ đô thị lớn, đủ để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quy mô.
Về quy định pháp lý, ngân sách cấp xã được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (Luật số 83/2015/QH13) quy định tại Mục 2 Chương III về ngân sách địa phương và phân cấp ngân sách các cấp; Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước; Nghị định 34/2019/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2016; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2019) quy định chức năng quản lý tài chính ngân sách của UBND cấp xã; Thông tư 342/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn lập dự toán, quản lý thu chi ngân sách cấp xã và các văn bản hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước về quy trình thủ tục tài chính.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng ngân sách cấp xã tuy ở cấp thấp nhất nhưng lại là cấp gần dân nhất, là nơi thể hiện rõ nhất hiệu quả phân cấp ngân sách trong mô hình quản lý tài chính công Việt Nam. Khi làm bài thi, cần phân biệt được bốn cấp ngân sách theo thứ tự từ trên xuống là: ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã; đồng thời nắm vững nguyên tắc mỗi cấp ngân sách phải tự cân đối thu chi, chỉ nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên khi không tự đảm bảo được nhiệm vụ chi được giao. Ngoài ra, cần hiểu rõ cơ chế phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách (tỷ lệ phần trăm cụ thể), vai trò của HĐND cấp xã trong việc quyết định dự toán ngân sách và giám sát việc sử dụng ngân sách, cũng như quy chế công khai minh bạch ngân sách cấp xã theo quy định tại Thông tư 343/2016/TT-BTC.