Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán gốc và/hoặc lãi theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với ngân hàng. Nợ khó đòi (hay nợ xấu ở mức độ cao) là khoản nợ đã được ngân hàng đánh giá có dấu hiệu suy giảm nghiêm trọng về khả năng thu hồi, thuộc nhóm nợ có rủi ro cao nhất theo quy định phân loại nợ. Hai khái niệm này tuy có liên quan nhưng khác nhau về bản chất pháp lý: nợ quá hạn mang tính thời điểm (quá thời hạn thanh toán), còn nợ khó đòi mang tính chất lượng tín dụng (khả năng mất vốn).
Về mặt pháp lý, khi một khoản nợ chuyển sang quá hạn, ngân hàng có quyền áp dụng các biện pháp xử lý theo hợp đồng như tính lãi quá hạn, gửi thông báo, nhắc nợ, đồng thời tiến hành phân loại nợ theo quy định. Nợ quá hạn được chia thành các nhóm từ 1 đến 5 dựa trên số ngày quá hạn, trong đó nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn (nợ khó đòi). Khi khoản nợ được xếp vào nhóm khó đòi, ngân hàng được phép sử dụng dự phòng rủi ro đã trích lập để xử lý và có thể khởi kiện ra tòa án hoặc bán nợ cho công ty mua bán nợ theo quy định của pháp luật. Nợ khó đòi cũng là căn cứ để ngân hàng xem xét xóa nợ, miễn giảm lãi hoặc cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Nghị định 116/2018/NĐ-CP.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, một cá nhân vay mua nhà tại Ngân hàng Vietcombank với hạn mức 2 tỷ đồng, đến kỳ thanh toán tháng 3/2024 không trả được thì khoản nợ này được ghi nhận là nợ quá hạn. Nếu sau 90 ngày quá hạn (tính đến tháng 6/2024) khách hàng vẫn chưa thanh toán và ngân hàng đánh giá khả năng thu hồi thấp do khách hàng mất việc, tài sản đảm bảo không đủ trang trải, khoản nợ sẽ được phân loại vào nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn (nợ khó đòi). Ngân hàng lúc này có thể thực hiện phát mại tài sản đảm bảo theo Bộ luật Dân sự 2015, đồng thời khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để đòi phần nợ còn lại.
Về cơ sở pháp lý, việc phân loại nợ và xử lý nợ quá hạn, nợ khó đòi được điều chỉnh chủ yếu bởi Thông tư 11/2021/TT-NHNN (có hiệu lực từ 01/7/2024 thay thế Thông tư 02/2013, Thông tư 09/2014, Thông tư 42/2016) quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Nghị định 116/2018/NĐ-CP về cho vay của tổ chức tín dụng cũng quy định chi tiết về xử lý nợ quá hạn. Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Luật Thi hành án dân sự 2008 là các văn bản quan trọng liên quan đến quyền khởi kiện, thời hiện khởi kiện và thi hành án khi xử lý nợ khó đòi.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ: nợ quá hạn là khái niệm thời gian (dựa trên số ngày quá hạn cụ thể), còn nợ khó đòi hay nợ xấu là khái niệm chất lượng tín dụng (dựa trên khả năng thu hồi). Lưu ý rằng một khoản nợ quá hạn chưa chắc đã là nợ khó đòi, nhưng khoản nợ khó đòi thì chắc chắn đã quá hạn. Cần nắm vững tiêu chí phân loại 5 nhóm nợ theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN và mức trích lập dự phòng tương ứng (từ 0% đến 100%). Thời hiện khởi kiện đòi nợ theo Bộ luật Dân sự 2015 là 3 năm kể từ ngày quyền yêu cầu phát sinh, đây cũng là điểm thường xuất hiện trong các câu hỏi thi về pháp lý ngân hàng.