Phương pháp giá bán lại vs giá mua lại là gì?

Resale Price vs Cost Plus Method Thuế & Tài chính công ~12 phút đọc

Phương pháp giá bán lại vs giá mua lại là gì?

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các giao dịch giữa những bên có quan hệ liên kết (Related Party Transactions) trong cùng một tập đoàn đa quốc gia (Multinational Enterprise - MNE) đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của hoạt động kinh doanh xuyên biên giới. Để chống thất thoát thuế và bảo đảm nguyên tắc "giá thị trường" (Arm's Length Principle - ALP), Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết, trong đó nêu rõ năm phương pháp xác định giá giao dịch liên kết mà người nộp thuế có thể lựa chọn và áp dụng. Hai trong năm phương pháp đó là Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method - RPM) và Phương pháp giá mua lại, còn gọi là phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost Plus Method - CPM). Cả hai phương pháp này đều thuộc nhóm phương pháp dựa trên giao dịch (Traditional Transaction Methods) và được vận dụng phổ biến nhất trên thực tế tại Việt Nam.

Phương pháp giá bán lại (RPM) thường được lựa chọn khi bên được kiểm tra (tested party) là một nhà phân phối (distributor) - tức là doanh nghiệp mua sản phẩm từ bên liên kết rồi bán lại cho bên thứ ba độc lập mà không thực hiện thêm các hoạt động gia tăng giá trị đáng kể. Công thức cốt lõi của phương pháp này là: Giá mua vào hợp lý = Giá bán lại cho bên độc lập – Lợi nhuận gộp hợp lý. Ngược lại, Phương pháp giá mua lại (CPM) lại phù hợp với các bên là nhà sản xuất, gia công, lắp ráp hoặc cung cấp dịch vụ cho bên liên kết, với công thức: Giá bán hợp lý = Giá vốn cộng dồn + Lợi nhuận gộp hợp lý. Sự khác biệt về "chiều" tính toán và đối tượng áp dụng chính là điểm mấu chốt giúp kế toán viên, chuyên gia thuế và đặc biệt là các phòng Tuân thủ (Compliance) trong ngân hàng lựa chọn được phương pháp phù hợp.

Hiểu đúng và áp dụng đúng hai phương pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tránh được rủi ro ấn định giá giao dịch liên kết từ cơ quan thuế mà còn là nền tảng để xây dựng Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết (Transfer Pricing Documentation - TPD) theo đúng quy định. Đối với các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng có công ty con, chi nhánh nước ngoài hoặc công ty liên kết cung cấp dịch vụ hỗ trợ (CNTT, đào tạo, nghiên cứu…), việc nắm vững hai phương pháp này càng có ý nghĩa then chốt.

Thuật ngữ tiếng Anh: Resale Price Method vs Cost Plus Method Lĩnh vực: Thuế & Tài chính công


Đặc điểm và phân loại

Hai phương pháp RPM và CPM tuy cùng thuộc nhóm Traditional Transaction Methods nhưng có sự khác biệt rất rõ về đối tượng áp dụng, công thức tính, chỉ tiêu lợi nhuận sử dụng và nguồn dữ liệu so sánh. Bảng dưới đây tổng hợp các tiêu chí phân biệt quan trọng nhất mà ứng viên thi tuyển vào ngân hàng cần nắm:

Tiêu chí Phương pháp giá bán lại (RPM) Phương pháp giá mua lại (CPM)
Tên tiếng Anh Resale Price Method Cost Plus Method
Đối tượng áp dụng chính Bên phân phối, đại lý, công ty thương mại Nhà sản xuất, gia công, lắp ráp, cung cấp dịch vụ
Công thức cốt lõi Giá mua vào hợp lý = Giá bán lại – Lợi nhuận gộp Giá bán hợp lý = Giá vốn + Tỷ suất lợi nhuận gộp
Chỉ tiêu lợi nhuận Biên lợi nhuận gộp trên giá bán lại (Gross Margin on Resale) Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (Cost Plus Markup)
Cơ sở xác định lợi nhuận Doanh thu bán lại Chi phí trực tiếp + chi phí gián tiếp
Ưu tiên áp dụng theo NĐ 132 Khi bên được kiểm tra là nhà phân phối Khi bên được kiểm tra là nhà sản xuất/người gia công
Dữ liệu so sánh cần thiết Cơ sở dữ liệu về hoạt động phân phối tương tự Cơ sở dữ liệu về hoạt động sản xuất, gia công tương tự
Mức độ phổ biến tại Việt Nam Cao (do nhiều công ty có hoạt động phân phối) Cao (do nhiều công ty FDI có nhà máy tại VN)

Ngoài cách phân loại theo đối tượng áp dụng, hai phương pháp này còn có thể được xếp vào nhóm phương pháp một bên (unilateral methods) - tức là chỉ tập trung phân tích giao dịch của một bên duy nhất trong quan hệ liên kết. Bên được lựa chọn để phân tích là bên có hoạt động ít phức tạp hơn, dễ tìm được dữ liệu so sánh từ các giao dịch độc lập. Riêng với Phương pháp giá mua lại, một số tài liệu còn chia thành hai biến thể nhỏ: Full Cost Plus (cộng lãi trên toàn bộ chi phí, bao gồm cả chi phí cố định) và Direct Cost Plus (chỉ cộng lãi trên chi phí trực tiếp, thường được ưu tiên vì sát với nguyên tắc thị trường hơn).

Một lưu ý thực hành quan trọng: theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP, khi có thể áp dụng nhiều phương pháp với độ tin cậy tương đương, doanh nghiệp nên ưu tiên phương pháp có chất lượng dữ liệu cao nhất và phù hợp nhất với đặc điểm hoạt động kinh doanh của bên được kiểm tra. Việc lựa chọn bừa bãi có thể dẫn đến kết luận truyên thuế, ấn định thuế hoặc bị phạt chậm nộp do khai sai giá giao dịch liên kết.


Ví dụ thực tế trong ngành ngân hàng

Ví dụ 1 - Áp dụng Phương pháp giá bán lại (RPM) cho công ty phân phối thẻ:

Ngân hàng A có một công ty con là Công ty TNHH Dịch vụ Thẻ B hoạt động tại Hà Nội với chức năng phát hành và phân phối thẻ tín dụng mang thương hiệu của Ngân hàng A. Công ty B mua thẻ trắng và dịch vụ in ấn, cá nhân hóa thẻ từ công ty mẹ ở nước ngoài với giá 800.000 VNĐ/thẻ, sau đó bán lại cho các đại lý độc lập với giá 1.000.000 VNĐ/thẻ.

Theo phương pháp RPM, kế toán viên thuế cần xác định biên lợi nhuận gộp hợp lý của Công ty B thông qua nghiên cứu các công ty độc lập có chức năng tương tự. Dựa trên cơ sở dữ liệu Orbis hoặc Royalty Stat, mức biên lợi nhuận gộp trung vị của các nhà phân phối thẻ độc lập là 15% trên giá bán ra. Như vậy, giá mua vào hợp lý tối đa được chấp nhận là:

Giá mua vào hợp lý = 1.000.000 VNĐ - (1.000.000 VNĐ × 15%) = 850.000 VNĐ/thẻ

Tức là thay vì ghi nhận chi phí 800.000 VNĐ/thẻ, Công ty B phải ghi nhận chi phí hợp lý tối thiểu là 850.000 VNĐ/thẻ, qua đó làm giảm lợi nhuận chịu thuế TNDN. Nếu Công ty B mua với giá thấp hơn 850.000 VNĐ (ví dụ 800.000 VNĐ), khoản chênh lệch 50.000 VNĐ/thẻ sẽ bị cơ quan thuế ấn định và tính vào thu nhập chịu thuế, kèm theo tiền chậm nộp 0,03%/ngày theo Luật Quản lý thuế 2019 (sửa đổi).

Ví dụ 2 - Áp dụng Phương pháp giá mua lại (CPM) cho nhà cung cấp dịch vụ CNTT:

Ngân hàng A cũng có một công ty con khác là Công ty Công nghệ C chuyên cung cấp dịch vụ phát triển phần mềm, bảo trì hệ thống core banking và hosting cho chính Ngân hàng A và các chi nhánh trong khu vực Đông Nam Á. Tổng chi phí trực tiếp cho mỗi dự án phần mềm mà Công ty C thực hiện cho Ngân hàng A là 2 tỷ VNĐ (bao gồm lương nhân viên 1,5 tỷ, chi phí thuê máy chủ 300 triệu, chi phí quản lý dự án 200 triệu).

Dựa trên cơ sở dữ liệu so sánh, mức Cost Plus Markup trung bình của các công ty cung cấp dịch vụ CNTT cỡ vừa ở khu vực là 10% trên chi phí trực tiếp. Áp dụng CPM, giá bán hợp lý mà Công ty C được phép ghi nhận khi bán dịch vụ cho Ngân hàng A là:

Giá bán hợp lý = 2.000.000.000 VNĐ × (1 + 10%) = 2.200.000.000 VNĐ

Nếu Công ty C tính giá chỉ 2.050.000.000 VNĐ (tức markup 2,5%), khoản chênh 150.000.000 VNĐ sẽ bị loại trừ khi tính thuế TNDN vì không đạt nguyên tắc giá thị trường. Ngược lại, nếu Công ty C tính giá 2.500.000.000 VNĐ (markup 25%), phần vượt 300.000.000 VNĐ cũng bị đánh giá lại để tránh chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

Ví dụ 3 - So sánh khi cùng một giao dịch nhưng chọn phương pháp khác nhau:

Xét một giao dịch cho thuê văn phòng giữa Ngân hàng A (bên thuê) và Công ty Quản lý Bất động sản D (bên cho thuê, là công ty con của Ngân hàng A) với giá cho thuê 200 triệu VNĐ/tháng, tổng chi phí vận hành của Công ty D là 170 triệu VNĐ/tháng.

  • Nếu áp dụng CPM: Tỷ suất lợi nhuận gộp = (200 - 170) / 170 = 17,6%. Cần so sánh với các công ty quản lý bất động sản độc lập có markup khoảng 12-15%. Như vậy giá thuê hợp lý tối đa chỉ là 195,5 triệu VNĐ (= 170 × 1,15).
  • Nếu áp dụng RPM (giả sử Ngân hàng A cho thuê lại một phần cho khách hàng): Biên lợi nhuận gộp trên giá bán lại hợp lý là 18%. Giá mua vào tối đa = 250 triệu × (1 - 18%) = 205 triệu VNĐ.

Ví dụ này cho thấy: mỗi phương pháp cho ra một kết quả khác nhau và cùng một giao dịch có thể bị đánh giá khác nhau tùy thuộc vào việc chọn RPM hay CPM - đây là lý do Nghị định 132 yêu cầu doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp phù hợp nhất với đặc thù hoạt động.


Phương pháp giá bán lại vs giá mua lại trong các ngôn ngữ khác

Ngôn ngữ Thuật ngữ Phiên âm
Tiếng Anh Resale Price Method / Cost Plus Method /ˌriːˈseɪl praɪs ˈmeθəd/ /ˌkɒst ˈplʌs ˈmeθəd/
Tiếng Nhật 再販売価格法 (Saihambai Kakaku Hō) / 原価加算法 (Genka Kasangaku Hō) romaji: saihanbaikakaku-hō / genka-kasanhō
Tiếng Hàn 재판매가격법 (Jaepanmaegagyeokbeop) / 원가가산법 (Won-ga Gasanbeop) romanization: jaepanmaegagyeok-beop / won-ga gasan-beop
Tiếng Trung 再销售价格法 (Zài Xiāoshòu Jiàgé Fǎ) / 成本加成法 (Chéngběn Jiāchéng Fǎ) pinyin: zài xiāoshòu jiàgé fǎ / chéngběn jiāchéng fǎ
Tiếng Tây Ban Nha Método del Precio de Reventa / Método del Coste más Margen /meˈto.ðo ðel ˈpre.θjo ðe reˈβen.ta/ /meˈto.ðo ðel ˈkos.te mas ˈmaxen/

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp giá bán lại khác gì Phương pháp giá mua lại?

Về bản chất, hai phương pháp này khác nhau ở chiều tính toánloại đối tượng áp dụng. Phương pháp giá bán lại (RPM) tính ngược từ giá bán ra thị trường của bên phân phối, trừ đi biên lợi nhuận gộp hợp lý để ra giá mua vào tối đa, phù hợp với các bên phân phối, thương mại, đại lý. Phương pháp giá mua lại (CPM) tính xuôi từ giá vốn sản xuất, cộng thêm tỷ suất lợi nhuận gộp hợp lý để ra giá bán tối thiểu, phù hợp với các bên sản xuất, gia công, dịch vụ. Nói cách khác, RPM trả lời câu hỏi "tôi mua vào với giá nào là hợp lý?", còn CPM trả lời "tôi bán ra với giá nào là hợp lý?".

Khi nào cần biết về hai phương pháp này?

Các đối tượng cần nắm rõ RPM và CPM bao gồm: (1) Cán bộ phòng Tài chính - Kế toánphòng Thuế của các ngân hàng, tổ chức tín dụng có công ty con hoặc giao dịch với bên liên kết; (2) Ứng viên thi tuyển vào vị trí Compliance, Kiểm toán nội bộ, Quản lý rủi ro khi hồ sơ yêu cầu có câu hỏi về chuyển giá; (3) Tư vấn thuế, kiểm toán viên thuộc Big 4 khi phục vụ khách hàng là ngân hàng hoặc tập đoàn tài chính. Trong thực tế, khi doanh nghiệp lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết (Local File - Tờ khai mẫu 03-07/QLT-CK kèm theo Nghị định 132), các phương pháp này là nội dung bắt buộc phải phân tích.

Hai phương pháp này ảnh hưởng thế nào đến nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp?

RPM và CPM tác động trực tiếp đến thuế TNDN phải nộp và rủi ro bị truy thu, phạt. Nếu công ty con của ngân hàng mua hàng với giá thấp hơn giá RPM hợp lý, cơ quan thuế sẽ ấn định phần chênh lệch vào thu nhập chịu thuế của bên Việt Nam, đồng thời tính tiền chậm nộp. Ngược lại, nếu công ty con bán hàng với giá cao hơn giá CPM hợp lý, phần lợi nhuận dư thừa bị loại ra, làm tăng thu nhập chịu thuế. Bên cạnh đó, việc áp dụng sai phương pháp hoặc không chuẩn bị hồ sơ chứng minh có thể dẫn đến mức phạt vi phạm hành chính về thuế lên tới 25% số thuế truy thu theo Điều 16 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, gây thiệt hại hàng tỷ đồng cho doanh nghiệp.


Tổng kết

Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method)Phương pháp giá mua lại (Cost Plus Method) là hai công cụ tính toán trọng yếu trong lĩnh vực giá chuyển nhượng (Transfer Pricing) tại Việt Nam, được quy định cụ thể tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Nếu nắm vững đặc điểm, đối tượng áp dụng và công thức của từng phương pháp, người học không chỉ hoàn thành tốt các câu hỏi trong bài thi tuyển dụng ngân hàng mà còn có nền tảng vững chắc để làm việc tại các phòng ban Tuân thủ, Kế toán quản trị hay Kiểm toán nội bộ. Trong bối cảnh các tập đoàn tài chính đa quốc gia ngày càng mở rộng mô hình công ty con tại Việt Nam, kỹ năng phân tích và lựa chọn RPM/CPM sẽ là lợi thế cạnh tranh rất lớn cho ứng viên ngành Ngân hàng - Tài chính trong tương lai gần.

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8

H

Hệ thống kiểm soát nội bộ

Pháp lý ngân hàng

Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy tắc và biện pháp do ngân...

H

Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết

Thuế & Pháp luật

Là tài liệu do người nộp thuế lập để chứng minh việc xác định giá giao dịch liên kết theo nguyên tắc...

P

Phương pháp giá bán lại

Thuế & Pháp luật kinh tế

Phương pháp giá bán lại là phương pháp xác định giá chuyển nhượng trong giao dịch liên kết, trong đó...

P

Phương pháp giá vốn cộng lãi

Thuế & Pháp luật

Phương pháp tính giá giao dịch liên kết dựa trên chi phí cộng thêm tỷ suất lợi nhuận gộp hợp lý, áp ...

P

Phương pháp phân chia lợi nhuận

Thuế & Pháp luật

Phân bổ lợi nhuận hợp nhất cho các bên liên kết theo tỷ lệ đóng góp, phù hợp với giao dịch tích hợp ...

P

Phương pháp so sánh giá giao dịch

Thuế & Pháp luật

Là phương pháp so sánh giá sản phẩm trong giao dịch liên kết với giá sản phẩm trong giao dịch độc lậ...

P

Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập

Thuế & Pháp luật kinh tế

Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập (Comparable Uncontrolled Price - CUP) là phương pháp xác đ...

Đ

Định giá giao dịch liên kết

Thuế & Pháp luật

Quá trình xác định giá mua bán hàng hóa/dịch vụ giữa các bên liên kết đảm bảo tuân thủ nguyên tắc gi...