Quyền đòi người thứ ba là gì?

Right of Recourse Bảo hiểm ~13 phút đọc

Quyền đòi người thứ ba là gì?

Quyền đòi người thứ ba (tiếng Anh: Right of Recourse) là một thuật ngữ quan trọng trong lĩnh vực bảo hiểm, đề cập đến quyền hợp pháp của doanh nghiệp bảo hiểm được phép truy thu lại số tiền đã bồi thường cho người được bảo hiểm từ bên thứ ba – tức cá nhân, tổ chức khác – là người gây ra tổn thất hoặc phải chịu trách nhiệm pháp lý về tổn thất đó. Quyền này được hình thành dựa trên nguyên tắc thế quyền (Subrogation) – một quy định pháp lý có tính nguyên tắc trong luật bảo hiểm và luật dân sự, nhằm bảo đảm công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm. Khi doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện nghĩa vụ chi trả bồi thường theo hợp đồng, họ sẽ "đứng vào vị trí pháp lý" của người được bảo hiểm để yêu cầu bên gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bỏ ra.

Cơ chế hoạt động của Quyền đòi người thứ ba được xây dựng trên nguyên tắc bồi hoàn – một nguyên tắc cốt lõi trong pháp luật dân sự, theo đó không ai được hưởng lợi ích từ việc chuyển rủi ro cho người khác nếu chính mình là người gây ra thiệt hại. Điều này có nghĩa là nếu bên thứ ba có lỗi trong việc gây ra tổn thất, bên thứ ba đó phải chịu trách nhiệm bồi thường, không phải doanh nghiệp bảo hiểm. Chính vì vậy, sau khi chi trả bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu bên thứ ba hoàn trả lại số tiền mà doanh nghiệp đã chi trả, nhằm khôi phục lại vị thế tài chính ban đầu. Quyền này phát sinh khi có ba điều kiện cơ bản: (i) doanh nghiệp bảo hiểm đã thực tế chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm, (ii) bên thứ ba có trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật (có lỗi hoặc có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại), và (iii) khoản đòi bồi thường không vượt quá số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả.

Trong thực tiễn pháp lý Việt Nam, Quyền đòi người thứ ba được quy định tại Điều 33 Bộ luật Dân sự 2015 về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, Điều 21 Nghị định 03/2023/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính, và cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn về kinh doanh bảo hiểm. Đối với lĩnh vực bảo hiểm hàng hải, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 (Điều 299) cũng có những quy định riêng về quyền này. Thời hiệu để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quyền đòi người thứ ba được tính từ ngày chi trả bồi thường và tuân theo thời hiệu khởi kiện dân sự – hiện nay là 03 năm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.

Thuật ngữ tiếng Anh: Right of Recourse Lĩnh vực: Bảo hiểm (Insurance)


Đặc điểm và phân loại Quyền đòi người thứ ba

Để hiểu rõ hơn về Quyền đòi người thứ ba, thí sinh ôn thi ngân hàng cần nắm vững các đặc điểm và cách phân loại chi tiết dưới đây:

Đặc điểm chính của Quyền đòi người thứ ba

Đặc điểm Nội dung chi tiết
Chủ thể thực hiện Doanh nghiệp bảo hiểm (bên bảo hiểm) sau khi đã chi trả bồi thường
Chủ thể bị đòi Bên thứ ba có lỗi hoặc có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Điều kiện phát sinh (1) Đã chi trả bồi thường; (2) Bên thứ ba có lỗi; (3) Có quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại
Phạm vi áp dụng Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Không áp dụng Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe cá nhân, bảo hiểm tự nguyện theo thỏa thuận
Thời hiệu khởi kiện 03 năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bồi thường
Căn cứ pháp lý Điều 33 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 21 Nghị định 03/2023/NĐ-CP; Điều 299 Bộ luật Hàng hải 2015
Nguyên tắc nền tảng Nguyên tắc thế quyền (Subrogation) và nguyên tắc bồi hoàn

Phân loại Quyền đòi người thứ ba theo hình thức

  1. Quyền đòi trực tiếp từ bên thứ ba gây thiệt hại: Doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp yêu cầu cá nhân/tổ chức gây ra tổn thất bồi hoàn. Ví dụ: yêu cầu tài xế gây tai nạn hoàn trả tiền bồi thường.

  2. Quyền đòi từ doanh nghiệp bảo hiểm của bên thứ ba (Reinsurance/Co-insurance): Trong trường hợp bên gây thiệt hại cũng có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự, doanh nghiệp bảo hiểm của người được bảo hiểm sẽ yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm của bên thứ ba bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

  3. Quyền đòi theo hợp đồng bảo hiểm bắt buộc: Áp dụng trong một số trường hợp bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc.

  4. Quyền đòi miễn trừ theo thỏa thuận: Trong một số trường hợp, hợp đồng bảo hiểm có thể có điều khoản miễn trừ quyền đòi người thứ ba (waiver of subrogation), nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm từ bỏ quyền truy đòi.

Đặc điểm nhận biết khi áp dụng trong đề thi

  • Không phát sinh quyền khi bên được bảo hiểm gây ra tổn thất (không có bên thứ ba chịu trách nhiệm).
  • Phát sinh quyền khi tổn thất do lỗi của bên thứ ba, bên được bảo hiểm chỉ là nạn nhân.
  • Giảm bồi thường nếu người được bảo hiểm từ bỏ quyền khiếu nại bên thứ ba trước khi nhận bồi thường.
  • Không áp dụng cho bảo hiểm nhân thọ vì tính chất nhân văn của loại hình bảo hiểm này.

Ví dụ thực tế trong ngành ngân hàng và bảo hiểm

Ví dụ 1: Bảo hiểm xe cơ giới

Anh Nguyễn Văn X mua bảo hiểm vật chất xe ô tô tại Ngân hàng A với mức bồi thường tối đa 500 triệu đồng. Trong quá trình di chuyển, xe của anh X bị xe tải của anh Trần Văn Y (đang chở hàng thuê cho Công ty Logistics Z) đâm từ phía sau do tài xế Y vượt đèn đỏ. Xe của anh X bị hư hỏng nặng phần đầu xe, chi phí sửa chữa ước tính 350 triệu đồng. Ngân hàng A (với vai trò là doanh nghiệp bảo hiểm) đã chi trả 350 triệu đồng cho anh X theo hợp đồng bảo hiểm. Sau khi chi trả, Ngân hàng A thực hiện Quyền đòi người thứ ba bằng cách gửi thông báo yêu cầu Công ty Logistics Z (chủ sở hữu xe tải) hoặc doanh nghiệp bảo hiểm của xe tải bồi hoàn 350 triệu đồng. Nếu Công ty Logistics Z đã mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc tại Ngân hàng B với mức bồi thường 500 triệu đồng, thì Ngân hàng A sẽ làm việc trực tiếp với Ngân hàng B để được bồi hoàn.

Ví dụ 2: Bảo hiểm tài sản doanh nghiệp

Công ty Cổ phần Sản xuất M (khách hàng của Ngân hàng A) mua bảo hiểm cháy nổ cho nhà máy sản xuất với tổng giá trị bảo hiểm 20 tỷ đồng. Trong quá trình thi công hệ thống điện, Công ty Xây dựng N (đối tác thi công) đã thi công sai kỹ thuật gây chập điện, dẫn đến cháy lớn tại nhà máy. Tổng thiệt hại ước tính 8 tỷ đồng, trong đó thiệt hại về tài sản 6 tỷ đồng và chi phí khắc phục sự cố 2 tỷ đồng. Ngân hàng A đã chi trả bồi thường 7,5 tỷ đồng (sau khi trừ mức miễn thường theo hợp đồng). Sau khi chi trả, Ngân hàng A thực hiện Quyền đòi người thứ ba yêu cầu Công ty Xây dựng N bồi hoàn 7,5 tỷ đồng, kèm theo các bằng chứng về lỗi thi công. Nếu Công ty Xây dựng N không tự nguyện bồi hoàn, Ngân hàng A có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền trong vòng 03 năm kể từ ngày chi trả.

Ví dụ 3: Bảo hiểm hàng hải và tín dụng thương mại

Công ty Xuất nhập khẩu P (khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng A) ký hợp đồng mua 5.000 tấn hàng hóa từ đối tác nước ngoài, thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) do Ngân hàng A phát hành. Lô hàng được vận chuyển bằng tàu biển của Công ty Vận tải biển Q. Trong quá trình vận chuyển, tàu của Công ty Q đã đâm vào đá ngầm do lỗi của thuyền trưởng, khiến toàn bộ lô hàng bị hư hỏng ước tính 12 tỷ đồng. Công ty P đã mua bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tại Ngân hàng A, và Ngân hàng A đã chi trả bồi thường 11 tỷ đồng (sau khi khấu trừ mức miễn thường 1 tỷ đồng). Ngân hàng A sau đó thực hiện Quyền đòi người thứ ba để yêu cầu Công ty Vận tải biển Q bồi hoàn 11 tỷ đồng theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015. Đồng thời, Ngân hàng A cũng có quyền liên hệ với doanh nghiệp bảo hiểm P&I (Protection and Indemnity) của Công ty Q để yêu cầu bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu.


Quyền đòi người thứ ba trong các ngôn ngữ khác

Ngôn ngữ Thuật ngữ Phiên âm
Tiếng Anh Right of Recourse /raɪt əv rɪˈkɔːrs/
Tiếng Nhật 代位求償権 (Đại vị cầu bồi quyền) Daii kyūshō-ken
Tiếng Hàn 구상권 (Cầu thượng quyền) Gusang-gwon
Tiếng Trung 代位求偿权 (Đại vị cầu bồi quyền) Dàiwèi qiúcháng quán
Tiếng Tây Ban Nha Derecho de repetición / Acción de recurso /deˈreʃo ðe repeβiˈθjon/ / /akˈθjon de reˈkurso/

Câu hỏi thường gặp

Quyền đòi người thứ ba khác gì Quyền thế quyền (Subrogation)?

Quyền đòi người thứ ba (Right of Recourse) là một bộ phận cấu thành của Quyền thế quyền (Subrogation). Trong khi quyền thế quyền là khái niệm rộng hơn, bao gồm mọi quyền và lợi ích pháp lý mà doanh nghiệp bảo hiểm được hưởng khi "đứng vào vị trí" của người được bảo hiểm (như quyền sở hữu tài sản bị phá hủy, quyền yêu cầu bên thứ ba bồi thường, quyền nhận các khoản tiền bảo hiểm khác), thì Quyền đòi người thứ ba chỉ giới hạn ở việc yêu cầu bên thứ ba có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả. Nói cách khác, mọi quyền đòi người thứ ba đều là quyền thế quyền, nhưng không phải mọi quyền thế quyền đều là quyền đòi người thứ ba. Ví dụ: Khi bảo hiểm xe ô tô và xe bị tổn thất toàn bộ, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền sở hữu phần còn lại của xe (quyền thế quyền), đồng thời có quyền đòi bên thứ ba gây tai nạn bồi thường (quyền đòi người thứ ba).

Khi nào cần biết về Quyền đòi người thứ ba?

Thí sinh ôn thi ngân hàng và nhân viên ngân hàng cần nắm vững kiến thức về Quyền đòi người thứ ba trong các tình huống sau: (i) Làm việc tại bộ phận bảo hiểm hoặc ngân hàng bảo lãnh – cần hiểu rõ để tư vấn khách hàng về quyền lợi bảo hiểm; (ii) Xử lý hồ sơ bồi thường bảo hiểm liên quan đến tài sản thế chấp tại ngân hàng – cần biết thứ tự ưu tiên thanh toán giữa ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm; (iii) Khi tham gia đề thi tuyển dụng ngân hàng, đặc biệt là phần thi về bảo hiểm, ngân hàng bảo lãnh, tín dụng thương mại; (iv) Khi giải quyết tranh chấp giữa các bên trong quan hệ bảo hiểm có yếu tố bên thứ ba. Đặc biệt, đây là thuật ngữ thường xuất hiện trong các đề thi vào vị trí chuyên viên tín dụng, chuyên viên bảo hiểm, và chuyên viên pháp lý ngân hàng.

Quyền đòi người thứ ba ảnh hưởng thế nào đến khách hàng?

Đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, Quyền đòi người thứ ba có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực cần lưu ý. Về mặt tích cực, quyền này giúp khách hàng được bồi thường nhanh chóng từ doanh nghiệp bảo hiểm mà không cần chờ đợi quá trình kiện tụng kéo dài với bên thứ ba; đồng thời giúp giảm chi phí pháp lý cho khách hàng vì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đứng ra thực hiện việc đòi bồi thường. Về mặt tiêu cực, khách hàng cần lưu ý rằng nếu từ bỏ quyền khiếu nại bên thứ ba trước khi nhận bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền giảm mức bồi thường tương ứng; khách hàng cũng có nghĩa vụ hỗ trợ doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp bằng chứng, tài liệu cần thiết để thực hiện quyền đòi người thứ ba. Do đó, khách hàng nên đọc kỹ hợp đồng bảo hiểm và tham khảo ý kiến tư vấn pháp lý trước khi ký bất kỳ thỏa thuận miễn trừ quyền khiếu nại nào.


Tổng kết

Quyền đòi người thứ ba (Right of Recourse) là một trong những nguyên tắc nền tảng của pháp luật bảo hiểm Việt Nam và quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm. Quyền này không chỉ bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bảo hiểm mà còn đảm bảo nguyên tắc "người gây thiệt hại phải bồi thường" – một nguyên tắc cốt lõi của luật dân sự. Đối với thí sinh ôn thi ngân hàng, việc nắm vững kiến thức về quyền đòi người thứ ba không chỉ giúp hoàn thành tốt bài thi mà còn là nền tảng quan trọng cho công việc thực tế tại các bộ phận liên quan đến bảo hiểm, tín dụng và pháp lý ngân hàng. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển với sự tham gia của nhiều ngân hàng trong lĩnh vực bancassurance, hiểu biết sâu sắc về quyền đòi người thứ ba sẽ giúp nhân viên ngân hàng tư vấn chính xác cho khách hàng và xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh trong thực tiễn.

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8

B

Bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm & Chứng khoán

Bảo hiểm phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm có phạm vi bồi thường tập trung vào các rủi ro liên quan...

B

Bồi thường thiệt hại

Pháp lý

Là khoản tiền bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải bồi thường cho bên bị vi phạm để khắc phục tổn thất...

B

Bộ luật Hàng hải Việt Nam

Thuế & Pháp luật

Văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ hàng hải bao gồm tàu biển, thuyền viên, hợp đồng vận chuyển...

D

Doanh nghiệp bảo hiểm

Bảo hiểm & Chứng khoán

Pháp nhân được thành lập và hoạt động theo Luật Kinh doanh bảo hiểm để kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm...

N

Nguyên tắc thế quyền

Bảo hiểm ngân hàng (Bancassurance)

Quyền công ty bảo hiểm được thay thế khách hàng để đòi bên thứ ba sau khi đã chi trả bồi thường theo...

N

Người được bảo hiểm

Bảo hiểm ngân hàng (Bancassurance)

Cá nhân mà tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản là đối tượng bảo hiểm theo hợp đồng, có thể khác với bên...

Q

Quyền sở hữu tài sản

Thuế & Pháp luật

Quyền của chủ sở hữu được pháp luật công nhận và bảo hộ đối với tài sản thuộc sở hữu của mình, bao g...

Q

Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Pháp lý

Quyền của bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm bù đắp các tổn thất thực tế và tổn thất do ngăn sản xuấ...