Tổn thất suy giảm giá trị tài sản (Impairment loss) là khoản lỗ được ghi nhận trên báo cáo tài chính khi giá trị ghi sổ của một tài sản vượt quá giá trị thu hồi ước tính được của tài sản đó tại thời điểm đánh giá. Khoản chênh lệch này phản ánh sự mất giá, hao mòn bất thường hoặc giảm sút về giá trị kinh tế của tài sản, làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ròng của đơn vị trong kỳ kế toán phát sinh.
Theo nguyên tắc kế toán, tổn thất suy giảm giá trị tài sản được xác định thông qua việc so sánh giá trị ghi sổ (carrying amount) của tài sản với giá trị thu hồi (recoverable amount) – là giá trị cao hơn giữa giá trị hợp lý trừ chi phí thanh lý và giá trị sử dụng của tài sản. Khi giá trị ghi sổ lớn hơn giá trị thu hồi, đơn vị phải ghi nhận khoản tổn thất bằng phần chênh lệch và làm giảm giá trị ghi sổ của tài sản xuống mức giá trị thu hồi. Đối với các khoản cho vay và ứng trước khách hàng, tổn thất suy giảm giá trị được trích lập dựa trên phân loại nợ theo nhóm nợ, mức độ rủi ro và khả năng thu hồi thực tế. Nguyên tắc thận trọng (prudence principle) trong kế toán đòi hỏi các khoản tổn thất phải được ghi nhận ngay khi có dấu hiệu suy giảm, không chờ đến khi tài sản được thanh lý hay xử lý. Ngoài ra, tổn thất suy giảm giá trị tài sản còn phải được đánh giá lại tại mỗi kỳ lập báo cáo tài chính để phản ánh đúng bản chất kinh tế của tài sản.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, tổn thất suy giảm giá trị tài sản xuất hiện phổ biến ở nhiều hình thức khác nhau. Khi khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ đúng hạn và rơi vào nhóm nợ xấu (nhóm 3, 4, 5 theo quy định), ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và ghi nhận tổn thất suy giảm giá trị khoản cho vay. Một ví dụ điển hình là khi bất động sản thế chấp của khoản vay bị giảm giá sâu do biến động thị trường, ngân hàng phải đánh giá lại giá trị tài sản bảo đảm và có thể phải trích thêm dự phòng bổ sung. Ngoài ra, các tài sản cố định như máy móc thiết bị ATM đã cũ kỹ, lạc hậu hoặc không còn sử dụng được cũng phải được kiểm tra và ghi nhận tổn thất suy giảm khi giá trị thu hồi thấp hơn giá trị ghi sổ. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn vào công ty con, công ty liên kết bị thua lỗ kéo dài cũng là đối tượng thường xuyên phải đánh giá suy giảm giá trị.
Về quy định pháp lý, việc ghi nhận tổn thất suy giảm giá trị tài sản tại Việt Nam được tuân thủ theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (VAS 21) – Tổn thất tài sản ban hành kèm theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ Tài chính. Đối với các tổ chức tín dụng, Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Thông tư số 48/2019/TT-NHNN và các thông tư sửa đổi bổ sung cũng có những hướng dẫn cụ thể về tỷ lệ trích dự phòng cụ thể cho từng nhóm nợ.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng tổn thất suy giảm giá trị tài sản là khoản mục quan trọng trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, làm giảm lợi nhuận trước thuế và phản ánh chất lượng quản trị rủi ro của ngân hàng. Khi tính hệ số CAR (tỷ lệ an toàn vốn) theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN, các khoản tổn thất được trích lập đầy đủ sẽ giảm tài sản có rủi ro, qua đó tác động tích cực đến hệ số an toàn vốn. Đặc biệt, cần phân biệt rõ giữa hao mòn tài sản cố định (khấu hao theo thời gian) với tổn thất suy giảm giá trị (ghi nhận khi có dấu hiệu bất thường), cũng như phân biệt dự phòng rủi ro tín dụng (cho các khoản cho vay) với dự phòng suy giảm giá trị tài sản khác. Đây là thuật ngữ thường xuyên xuất hiện trong các đề thi chứng chỉ nghiệp vụ và kỳ thi tuyển dụng vào ngân hàng.