Trích lập dự phòng rủi ro ngân hàng là gì?

Risk Provision by Banks Pháp lý ~3 phút đọc

Trích lập dự phòng rủi ro ngân hàng là việc các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài dự tính và đưa vào chi phí hoạt động một khoản tiền nhất định để dự phòng cho những tổn thất tiềm ẩn có thể phát sinh từ các khoản nợ, khoản cho vay, ứng trước, đầu tư và các tài sản có rủi ro tín dụng khác. Đây là nghiệp vụ bắt buộc theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho ngân hàng có nguồn lực tài chính để xử lý khi khách hàng mất khả năng thanh toán hoặc khoản nợ được phân loại vào nhóm có rủi ro cao.

Việc trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện dựa trên kết quả phân loại nợ của các tổ chức tín dụng theo quy định tại Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Theo đó, các khoản nợ được phân thành 5 nhóm dựa trên khả năng thu hồi và mức độ rủi ro: nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) với tỷ lệ trích 0%, nhóm 2 (nợ cần chú ý) trích 5%, nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) trích 20%, nhóm 4 (nợ nghi ngờ) trích 50% và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) trích 100% dư nợ. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng còn phải trích dự phòng chung ở mức 0,75% tổng dư nợ cho vay khách hàng đối với một số trường hợp theo quy định. Khoản dự phòng này được hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính của ngân hàng, làm giảm lợi nhuận trước thuế trong kỳ phát sinh. Khi khoản nợ được xử lý rủi ro bằng nguồn dự phòng thì ngân hàng được sử dụng quỹ dự phòng rủi ro đã trích để bù đắp tổn thất thực tế phát sinh.

Trong thực tế tại Việt Nam, khi một khách hàng cá nhân vay mua nhà tại ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) không trả được lãi và gốc trong thời gian dài, khoản nợ này sẽ được ngân hàng phân loại vào nhóm 4 (nợ nghi ngờ) hoặc nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) và phải trích dự phòng tương ứng 50% hoặc 100% số dư nợ. Một ví dụ khác là trong giai đoạn 2012-2014, nhiều ngân hàng Việt Nam đã phải trích lập dự phòng rủi ro với số tiền rất lớn để xử lý nợ xấu phát sinh từ cho vay bất động sản và đầu tư tài chính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh. Gần đây nhất, theo báo cáo tài chính quý 4/2023 của các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, BIDV, Techcombank, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí hoạt động.

Về cơ sở pháp lý, hoạt động trích lập dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng hiện được điều chỉnh chủ yếu bởi Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (có hiệu lực từ 01/10/2021, thay thế Thông tư 02/2019 và Thông tư 09/2014) và Thông tư 02/2023/TT-NHNN ngày 23/04/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 11/2021. Bên cạnh đó, Điều 144 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (Luật số 32/2024/QH15) cũng có quy định về dự phòng rủi ro tài sản có, đồng thời Thông tư 16/2018/TT-NHNN quy định về tỷ lệ an toàn vốn cũng liên quan đến việc đảm bảo khả năng xử lý rủi ro.

Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng tỷ lệ trích dự phòng cụ thể theo 5 nhóm nợ (0%, 5%, 20%, 50%, 100%) là nội dung trọng tâm thường xuất hiện trong các câu hỏi thi. Ngoài ra, cần phân biệt rõ giữa dự phòng cụ thể (trích theo từng khoản nợ dựa trên phân loại nợ) và dự phòng chung (trích 0,75% trên dư nợ cho vay khách hàng đối với một số tổ chức tín dụng theo quy định). Đặc biệt, theo Thông tư 11/2021, các tổ chức tín dụng không phải trích dự phòng chung đối với khoản nợ đã được trích dự phòng cụ thể ở mức 100%, và quy định này cũng phân biệt giữa trích trước hay trích sau khi xác định kết quả kinh doanh. Thí sinh cũng nên nhớ rằng khoản dự phòng rủi ro được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo quy định tại Thông tư 78/2014/TT-BTC và các văn bản sửa đổi.

🎓

Luyện thi với kiến thức này

Thuật ngữ này thường xuất hiện trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Chia sẻ thuật ngữ này:

🔗 Thuật ngữ liên quan 8