Ủy thác đòi nợ pháp lý ngân hàng là hoạt động trong đó ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng ký hợp đồng ủy quyền cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ đủ điều kiện pháp luật để thực hiện việc thu hồi các khoản nợ phải trả của khách hàng vay. Đây là cơ chế hợp pháp giúp ngân hàng giải quyết các khoản nợ xấu, nợ quá hạn một cách chuyên nghiệp và tuân thủ đúng quy định tại Nghị định 21/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
Về cơ chế hoạt động, ngân hàng là bên ủy thác sẽ ký hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp đòi nợ trong đó quy định rõ phạm vi, đối tượng, số tiền, thời hạn, phí dịch vụ và quyền hạn của bên nhận ủy thác. Doanh nghiệp nhận ủy thác phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định như là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, có ngành nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ, đảm bảo về nhân sự quản lý và người hành nghề có lý lịch rõ ràng không có tiền án tiền sự liên quan. Trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp đòi nợ được phép áp dụng nhiều biện pháp từ nhắc nợ qua điện thoại, gửi văn bản yêu cầu, gặp gỡ trực tiếp cho đến tư vấn khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài; tuyệt đối không được đe dọa, khủng bố, dùng vũ lực hay xâm phạm danh dự, uy tín của người nợ và người thân của họ. Toàn bộ quá trình ủy thác phải được lập thành văn bản, lưu giữ hồ sơ và tuân thủ quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ phần lớn như Vietcombank, BIDV, Techcombank, MB hay VPBank thường phối hợp với các công ty mua bán nợ hoặc doanh nghiệp đòi nợ chuyên nghiệp để xử lý các khoản nợ xấu nhóm 3, 4, 5. Khi khách hàng vay vốn không trả được nợ đúng hạn và đã qua nhiều lần nhắc nợ nội bộ của ngân hàng mà vẫn không thanh toán, ngân hàng sẽ chuyển hồ sơ cho doanh nghiệp nhận ủy thác tiếp tục làm việc với khách hàng theo quy trình. Nếu khách hàng vẫn không hợp tác, ngân hàng có thể cân nhắc bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về cơ sở pháp lý, Ủy thác đòi nợ pháp lý ngân hàng chịu sự điều chỉnh chủ yếu của Nghị định 21/2020/NĐ-CP ngày 17/02/2020 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ, có hiệu lực từ ngày 01/04/2020. Ngoài ra còn liên quan đến Bộ luật Dân sự 2015 (các điều về hợp đồng ủy quyền và thực hiện nghĩa vụ dân sự), Luật Các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung 2017, các Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Thí sinh ôn thi cần đặc biệt nắm vững các điều kiện kinh doanh dịch vụ đòi nợ tại Điều 6 và quy trình ủy thác đòi nợ theo Điều 11, 12 của Nghị định 21/2020/NĐ-CP.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý phân biệt rõ giữa ủy thác đòi nợ (theo Nghị định 21/2020) với bán nợ cho VAMC (theo Nghị định 53/2013 sửa đổi bởi Nghị định 34/2015/NĐ-CP) và với xử lý tài sản bảo đảm (theo Nghị định 21/2021/NĐ-CP), đây là ba cơ chế xử lý nợ xấu khác nhau nhưng hay bị nhầm lẫn trong các đề thi. Cần nắm rõ: doanh nghiệp đòi nợ chỉ được thu phí dịch vụ theo hợp đồng chứ không được phép trực tiếp thu hộ gốc nợ và lãi, mọi khoản thanh toán của khách hàng đều phải chuyển về tài khoản của ngân hàng ủy thác. Ngân hàng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy thác nếu doanh nghiệp đòi nợ vi phạm các quy định về phương thức đòi nợ đã cam kết, đồng thời chịu trách nhiệm giám sát toàn bộ hoạt động ủy thác theo quy định pháp luật.