Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba (Third party collateral) là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trong đó người không phải bên vay (bên thứ ba) tự nguyện dùng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của người vay đối với ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng. Bên thứ ba tham gia với tư cách là bên bảo đảm mà không trực tiếp hưởng lợi từ khoản vay, chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình nếu bên vay không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn.
Trong cấu trúc bảo đảm này thường có ba chủ thể tham gia gồm: bên vay (bên nợ chính), bên bảo đảm (bên thứ ba) và bên nhận bảo đảm (ngân hàng). Bên thứ ba có thể là cá nhân hoặc tổ chức có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, sở hữu hợp pháp tài sản bảo đảm như bất động sản, giấy tờ có giá, số dư tiền gửi, phương tiện vận tải hoặc động sản có giá trị. Quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về bên thứ ba, chỉ có quyền của bên thứ ba đối với tài sản bị hạn chế theo hợp đồng bảo đảm. Khi bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Đồng thời, bên thứ ba có quyền yêu cầu bên vay hoàn trả toàn bộ số tiền, giá trị tài sản đã dùng để thanh toán thay theo quy định về quyền truy đòi.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, đây là biện pháp bảo đảm được sử dụng rất phổ biến, đặc biệt trong cho vay tiêu dùng, cho vay mua nhà và cho vay khởi nghiệp. Ví dụ điển hình là bố mẹ dùng căn nhà của mình để thế chấp cho khoản vay mua nhà của con cái tại các ngân hàng như Vietcombank, BIDV hay Techcombank. Trường hợp phổ biến khác là công ty mẹ dùng quyền sử dụng đất, nhà xưởng hoặc máy móc thiết bị của mình để bảo đảm cho khoản vay của công ty con tại ngân hàng thương mại. Đối với khoản vay nhỏ, cá nhân thường dùng sổ tiết kiệm hoặc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của mình để cầm cố cho khoản vay của người thân, bạn bè. Hình thức này đặc biệt hữu ích đối với người trẻ chưa tích lũy được tài sản nhưng có người thân sẵn sàng hỗ trợ.
Về quy định pháp lý, Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 320 chính thức thừa nhận bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản của người khác và quy định rõ về hậu quả pháp lý khi bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ thay. Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm bằng tài sản cũng có các quy định cụ thể về hình thức hợp đồng, điều kiện có hiệu lực đối với từng loại tài sản. Bên cạnh đó, các thông tư của Ngân hàng Nhà nước như Thông tư 06/2023/TT-NHNN quy định rõ việc chấp nhận tài sản bảo đảm của bên thứ ba trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó yêu cầu ngân hàng phải thẩm định kỹ lưỡng tài sản và năng lực pháp lý của bên bảo đảm. Hợp đồng bảo đảm phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực đối với bất động sản theo quy định pháp luật.
Khi ôn thi ngân hàng cần lưu ý phân biệt rõ bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba với bảo lãnh ngân hàng (bank guarantee), trong đó bên bảo lãnh cam kết trả nợ thay bằng tiền còn bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba là dùng tài sản cụ thể để bảo đảm. Đồng thời cần phân biệt với bảo đảm bằng tài sản của chính bên vay (tự bảo đảm) vì thủ tục pháp lý và rủi ro xử lý tài sản có khác biệt. Cần nắm vững khái niệm quyền truy đòi (right of recourse) của bên thứ ba và nghĩa vụ liên đới giữa bên vay và bên bảo đảm trong trường hợp bảo đảm chung nhiều nghĩa vụ.