Cầm cố quyền đòi nợ là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, theo đó bên cầm cố (thường là khách hàng vay) chuyển giao quyền yêu cầu thanh toán từ một khoản phải thu cho bên nhận cầm cố (thường là tổ chức tín dụng) để bảo đảm cho khoản nợ vay. Quyền đòi nợ được cầm cố có thể phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng tín dụng hoặc các chứng từ có giá khác. Đây là một trong những hình thức bảo đảm tiền vay được sử dụng phổ biến nhất trong hoạt động tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại hiện nay tại Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, quyền đòi nợ được cầm cố phải là quyền hợp pháp, có giá trị và xác định được về nội dung. Hợp đồng cầm cố quyền đòi nở phải được lập thành văn bản và có thể phải công chứng hoặc chứng thực theo quy định tùy từng trường hợp cụ thể. Bên nhận cầm cố có quyền nhận tiền thanh toán trực tiếp từ bên thứ ba (người có nghĩa vụ thanh toán cho bên cầm cố) khi khoản nợ đến hạn, hoặc được ưu tiên thanh toán từ số tiền thu được nếu bên cầm cố không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong trường hợp cần thiết, bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu bên cầm cố thông báo cho bên thứ ba biết về việc cầm cố và yêu cầu bên thứ ba chỉ thanh toán cho mình khi nghĩa vụ đến hạn. Khi xử lý quyền đòi nợ được cầm cố, bên nhận cầm cố có thể yêu cầu bên thứ ba thanh toán trực tiếp hoặc thực hiện các biện pháp khác theo quy định pháp luật.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, cầm cố quyền đòi nợ được áp dụng rất phổ biến trong nhiều trường hợp khác nhau. Ví dụ, một doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn ngân hàng để sản xuất hàng hóa có thể cầm cố quyền đòi nợ từ hợp đồng mua bán đã ký với đối tác nước ngoài cho ngân hàng, khi đó số tiền thanh toán từ thư tín dụng (L/C) sẽ được dùng để trả nợ. Một ví dụ khác là khách hàng cá nhân vay mua nhà và cầm cố hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có giá trị hoàn lại, hoặc doanh nghiệp vay vốn lưu động và cầm cố các khoản phải thu từ hợp đồng bán hàng với khách hàng của mình. Các tổ chức tín dụng như Vietcombank, BIDV, Techcombank thường xuyên sử dụng hình thức này trong các gói cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cầm cố quyền đòi nợ được quy định cụ thể tại Bộ luật Dân sự năm 2015, từ Điều 295 đến Điều 308, trong đó Điều 308 quy định riêng về hợp đồng cầm cố quyền đòi nợ. Ngoài ra, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết về biện pháp bảo đảm cũng có những hướng dẫn chi tiết về hình thức cầm cố này. Đối với hoạt động ngân hàng, các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cho vay và bảo đảm tiền vay, đặc biệt là Thông tư hướng dẫn cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, cũng cần được tuân thủ đồng bộ với quy định pháp luật dân sự.
Người ôn thi ngân hàng cần lưu ý phân biệt rõ giữa cầm cố quyền đòi nợ với các hình thức bảo đảm khác như thế chấp tài sản, bảo lãnh ngân hàng hay tín chấp. Đặc biệt, cần nắm vững điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cầm cố quyền đòi nợ, thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm, và quyền cũng như nghĩa vụ của bên thứ ba khi nhận được thông báo về việc cầm cố. Bên cạnh đó, cần hiểu rõ sự khác biệt giữa cầm cố quyền đòi nợ và thế chấp quyền đòi nợ trong một số trường hợp đặc biệt, cũng như nắm được quy trình xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định pháp luật hiện hành.