Cam kết bảo lãnh miệng là sự thỏa thuận bằng lời nói giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh, mà không có văn bản cam kết chính thức. Theo quy định pháp luật Việt Nam, hình thức bảo lãnh này về nguyên tắc không có giá trị pháp lý do không đáp ứng yêu cầu về hình thức hợp đồng bằng văn bản, trừ những trường hợp đặc biệt có chứng cứ xác thực chứng minh giao dịch đã được thực hiện trên thực tế.
Về bản chất pháp lý, cam kết bảo lãnh miệng tồn tại dưới dạng thỏa thuận miệng, không được lập thành văn bản, không có chữ ký của các bên và không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Theo Điều 458 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng bảo lãnh phải được lập thành văn bản, do đó cam kết miệng về nguyên tắc không đủ điều kiện để công nhận giá trị pháp lý. Tuy nhiên, Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trong trường hợp giao dịch dân sự đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ mà hình thức không đúng quy định thì giao dịch vẫn có hiệu lực đối với phần đã thực hiện, nếu có chứng cứ chứng minh. Điều này có nghĩa cam kết bảo lãnh miệng chỉ có giá trị khi bên bảo lãnh đã thực sự thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh hoặc bên nhận bảo lãnh đã tin tưởng vào cam kết đó và có hành động cụ thể. Việc xác định giá trị pháp lý trong trường hợp này phụ thuộc rất lớn vào hệ thống chứng cứ như ghi âm, lời khai nhân chứng, hóa đơn, chứng từ thanh toán hoặc các hành vi thực tế khác.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, trường hợp cam kết bảo lãnh miệng thường phát sinh khi nhân viên tín dụng hoặc lãnh đạo ngân hàng hứa hẹn miệng với khách hàng về việc bảo lãnh cho khoản vay, phát hành thư bảo lãnh hoặc cam kết bảo đảm nghĩa vụ tài chính mà chưa có quyết định bằng văn bản của cấp có thẩm quyền. Ví dụ, một giám đốc chi nhánh ngân hàng cam kết miệng với doanh nghiệp về việc bảo lãnh thanh toán cho hợp đồng mua bán hàng hóa trị giá 10 tỷ đồng, nhưng sau đó ngân hàng từ chối phát hành thư bảo lãnh vì không đủ hồ sơ, doanh nghiệp bị thiệt hại và yêu cầu ngân hàng chịu trách nhiệm. Trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp có bằng chứng ghi âm, email trao đổi xác nhận nội dung cam kết hoặc đã ký hợp đồng với đối tác dựa trên cam kết miệng đó, cam kết miệng có thể được Tòa án xem xét công nhận một phần giá trị pháp lý.
Về quy định pháp lý liên quan, cam kết bảo lãnh miệng được điều chỉnh chủ yếu bởi Bộ luật Dân sự 2015, đặc biệt tại Điều 458 quy định về hình thức hợp đồng bảo lãnh, Điều 117 và Điều 129 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và giá trị pháp lý khi giao dịch không đúng hình thức. Ngoài ra, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 và các Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về bảo lãnh ngân hàng cũng yêu cầu nghiêm ngặt hình thức văn bản đối với các cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Thông tư 04/2018/TT-NHNN về cho vay và Thông tư 11/2022/TT-NHNN về bảo lãnh ngân hàng đều quy định rõ thư bảo lãnh phải bằng văn bản và có chữ ký của người có thẩm quyền.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý rằng nguyên tắc quan trọng nhất là hợp đồng bảo lãnh phải bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lý đầy đủ, đây là yêu cầu bắt buộc về hình thức theo quy định pháp luật. Cam kết bảo lãnh miệng chỉ được công nhận giá trị pháp lý trong phạm vi phần giao dịch đã thực hiện thực tế và phải có chứng cứ hợp pháp chứng minh, đây là ngoại lệ chứ không phải nguyên tắc. Khi làm bài thi, cần phân biệt rõ giữa bảo lãnh ngân hàng (do tổ chức tín dụng phát hành) và bảo lãnh dân sự (giữa cá nhân, tổ chức) vì quy định pháp lý áp dụng có những điểm khác biệt. Đặc biệt, trong hoạt động ngân hàng, mọi cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình nội bộ và hình thức văn bản, không có bất kỳ trường hợp ngoại lệ nào cho cam kết miệng dù là của lãnh đạo cấp cao.