Cam kết trả nợ đơn phương pháp lý là một dạng giao dịch dân sự đơn phương, theo đó một bên tự nguyện cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên nợ chính mà không cần sự đồng ý trước của chủ nợ hay bên nợ. Cam kết này phát sinh hiệu lực ràng buộc pháp lý khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, nội dung và hình thức theo Bộ luật Dân sự. Đây là cơ sở quan trọng giúp chủ nợ bảo vệ quyền lợi trong các quan hệ tín dụng ngân hàng, đặc biệt khi bên nợ gặp khó khăn trong việc thanh toán.
Về bản chất pháp lý, cam kết trả nợ đơn phương là biểu hiện của hành vi pháp lý đơn phương được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, cho phép một chủ thể tự ý phát sinh nghĩa vụ cho chính mình thông qua tuyên bố đơn phương. Khi cam kết được đưa ra một cách rõ ràng, bên cam kết phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng nội dung đã tuyên bố, kể cả khi chủ nợ chưa có yêu cầu hay chưa chấp thuận bằng văn bản. Trong hoạt động ngân hàng, cam kết này thường xuất hiện dưới hình thức bảo lãnh cá nhân, bảo đảm của bên thứ ba hoặc cam kết của người liên quan đối với khoản vay của khách hàng. Điểm khác biệt cơ bản so với hợp đồng bảo lãnh truyền thống là cam kết đơn phương không đòi hỏi sự thỏa thuận giữa các bên mà chỉ cần ý chí tự nguyện của một bên. Tuy nhiên, để có giá trị pháp lý, cam kết phải xác định rõ đối tượng nợ, số tiền, thời hạn và không vi phạm điều cấm của pháp luật.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, khi một doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại, công ty mẹ hoặc cá nhân liên quan có thể tự nguyện gửi văn bản cam kết trả nợ đơn phương để chịu trách nhiệm thanh toán thay khi doanh nghiệp mất khả năng chi trả. Ví dụ, anh A vay 5 tỷ đồng tại Ngân hàng B, bố anh A tự lập văn bản cam kết sẽ trả toàn bộ khoản nợ cùng lãi suất nếu con trai không thực hiện được nghĩa vụ đến hạn. Văn bản cam kết được công chứng hoặc chứng thực theo quy định và trở thành căn cứ pháp lý để ngân hàng khởi kiện bố anh A khi cần thiết. Nhiều tổ chức tín dụng còn sử dụng cam kết đơn phương như biện pháp bảo đảm bổ sung bên cạnh các tài sản thế chấp truyền thống.
Cơ sở pháp lý chủ yếu của cam kết trả nợ đơn phương được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể là các điều 112, 113 và 114 về giao dịch dân sự đơn phương, hiệu lực và hủy bỏ giao dịch. Các quy định về bảo lãnh tại điều 335 đến 343 cũng có liên quan khi cam kết mang tính chất bảo lãnh cho nghĩa vụ của bên thứ ba. Trong lĩnh vực ngân hàng, các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cấp tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro cũng đề cập đến việc thừa nhận giá trị pháp lý của loại cam kết này.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ ba khái niệm dễ nhầm lẫn gồm cam kết trả nợ đơn phương, hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng bảo đảm, trong đó cam kết đơn phương chỉ cần ý chí một bên, còn bảo lãnh và bảo đảm đều đòi hỏi sự thỏa thuận giữa các bên. Lưu ý quan trọng là cam kết đơn phương bị vô hiệu trong các trường hợp quy định tại điều 125 Bộ luật Dân sự 2015, chẳng hạn khi chủ thể không có năng lực hành vi dân sự hoặc nội dung vi phạm điều cấm pháp luật. Ngoài ra, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu thực hiện cam kết trả nợ cần được tính theo quy định chung về thời hiệu trong Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật chuyên ngành.