Chia di sản thế chấp ngân hàng là quá trình phân chia tài sản thừa kế mà trong đó có một hoặc nhiều tài sản đang được dùng để bảo đảm nghĩa vụ nợ tại ngân hàng (thế chấp, cầm cố). Đây là trường hợp đặc biệt phải vừa tuân thủ quy định pháp luật dân sự về thừa kế, vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên nhận thế chấp (tổ chức tín dụng). Việc chia di sản trong tình huống này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các đồng thừa kế, ngân hàng và cơ quan công chứng/chứng thực.
Khi người thế chấp qua đời, quyền thế chấp vẫn có hiệu lực đối với tài sản thế chấp và được bảo lưu đối với người thừa kế theo quy định tại Bộ luật Dân sự. Người thừa kế kế thừa cả tài sản lẫn nghĩa vụ nợ gắn liền với tài sản đó, có nghĩa là họ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng hoặc tìm phương án xử lý tài sản thế chấp. Quá trình chia di sản phải đảm bảo không làm thay đổi bản chất hoặc giá trị tài sản thế chấp, đồng thời không ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo đảm. Nếu các đồng thừa kế không thống nhất được phương án phân chia, vụ việc có thể được yêu cầu tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Ví dụ thực tế tại Việt Nam: Ông A vay ngân hàng BIDV 2 tỷ đồng và thế chấp căn nhà tại quận Bình Thạnh, TP.HCM. Khi ông A qua đời, hai người con cùng vợ ông là đồng thừa kế theo pháp luật. Căn nhà thế chấp trở thành di sản chung và phải được chia. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn có quyền yêu cầu các thừa kế thanh toán khoản nợ còn lại. Trong trường hợp này, các thừa kế có thể thỏa thuận một người nhận căn nhà và gánh khoản nợ, hoặc bán căn nhà thông qua phương thức xử lý tài sản thế chấp để trả nợ rồi chia phần còn lại. Một tình huống khác là căn hộ chung cư đang thế chấp tại Vietcombank, khi người vay mất, ngân hàng có quyền thông báo cho đồng thừa kế về nghĩa vụ thanh toán và tiến hành các biện pháp xử lý tài sản theo hợp đồng thế chấp đã ký kết hợp pháp.
Về quy định pháp lý, căn cứ chủ yếu là Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể: Điều 317 đến Điều 336 quy định về thế chấp tài sản; Điều 611, 612, 614, 650, 660 quy định về thừa kế và nghĩa vụ tài sản của người thừa kế. Ngoài ra, Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng có quy định liên quan đến xử lý tài sản thế chấp. Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT hướng dẫn về thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cũng là văn bản cần lưu ý khi tài sản thế chấp là bất động sản. Bên cạnh đó, các quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) cũng chi phối hoạt động xử lý nợ có tài sản bảo đảm của ngân hàng thương mại.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần lưu ý một số điểm quan trọng. Thứ nhất, thế chấp không chấm dứt khi người thế chấp chết mà tiếp tục có hiệu lực đối với người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Thứ hai, người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm về nợ trong phạm vi tài sản thừa kế mà họ nhận được, không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình. Thứ ba, thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản thế chấp là: chi phí xử lý tài sản, nghĩa vụ nợ đối với ngân hàng, rồi mới chia phần còn lại cho các đồng thừa kế. Thứ tư, nếu tài sản thế chấp được chia thành nhiều phần, mỗi phần đều phải bảo đảm giá trị tương ứng với phần nghĩa vụ được phân chia, tránh tình trạng một thừa kế nhận phần tài sản giá trị thấp nhưng gánh khoản nợ lớn. Cuối cùng, hồ sơ chia di sản có tài sản thế chấp thường phải có sự xác nhận hoặc thỏa thuận bằng văn bản với ngân hàng, đồng thời phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động tại cơ quan có thẩm quyền nếu tài sản là bất động sản.