Cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn là hai hình thức cấp tín dụng được phân biệt dựa trên kỳ hạn của hợp đồng tín dụng, trong đó cho vay ngắn hạn có kỳ hạn dưới 12 tháng và cho vay dài hạn có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên (theo quy định tại khoản 9 Điều 4 Thông tư 39/2016/TT-NHNN). Sự phân biệt này không chỉ mang tính thời gian mà còn kéo theo nhiều quy định pháp lý khác nhau về mục đích sử dụng vốn, đối tượng khách hàng, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro và cách thức quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng.
Theo quy định pháp luật Việt Nam, kỳ hạn cho vay được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay, phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc thời hạn hoàn vốn của dự án. Cho vay ngắn hạn thường phục vụ nhu cầu vốn lưu động, bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, trong khi cho vay dài hạn dùng để đầu tư tài sản cố định, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng hoặc thực hiện các dự án đầu tư có thời gian thu hồi vốn dài. Đối với cho vay dài hạn theo dự án đầu tư, pháp luật còn phân chia thành cho vay trung hạn (từ 1 đến 5 năm) và cho vay dài hạn (trên 5 năm). Mỗi loại kỳ hạn sẽ có cách thức đánh giá rủi ro, quy trình thẩm định và tỷ lệ dự phòng khác nhau, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí hoạt động và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Ví dụ thực tế trong ngân hàng Việt Nam: một doanh nghiệp sản xuất may mặc vay 5 tỷ đồng từ Vietcombank để mua nguyên vật liệu cho đơn hàng xuất khẩu với kỳ hạn 6 tháng thì được xếp vào cho vay ngắn hạn, áp dụng tỷ lệ trích lập dự phòng thấp hơn. Ngược lại, cùng doanh nghiệp đó vay 50 tỷ đồng để xây dựng nhà máy mới với kỳ hạn 7 năm thì được phân loại là cho vay dài hạn, khi đó tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo nhóm nợ sẽ cao hơn, đặc biệt đối với các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Nếu khoản vay dài hạn bị xếp vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), tỷ lệ trích dự phòng là 30%, trong khi khoản vay ngắn hạn cùng nhóm chỉ phải trích 20%.
Về quy định pháp lý liên quan, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là căn cứ chính để phân biệt kỳ hạn cho vay. Thông tư 02/2023/TT-NHNN ngày 23/03/2023 (thay thế Thông tư 11/2021) quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro là văn bản quan trọng quy định tỷ lệ trích lập dự phòng khác nhau giữa cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn. Cụ thể, tỷ lệ trích dự phòng cụ thể đối với nhóm nợ 3 là 20% cho ngắn hạn và 30% cho trung dài hạn; nhóm nợ 4 là 50% cho ngắn hạn và 70% cho trung dài hạn; nhóm nợ 5 là 100% cho cả hai loại. Ngoài ra, Nghị định 21/2021/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) cũng có những quy định liên quan đến giới hạn cho vay, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (không quá 40% đối với tổ chức tín dụng phi nhân dân).
Lưu ý quan trọng cho người ôn thi ngân hàng: cần nhớ rõ tiêu chí phân loại kỳ hạn cho vay theo Thông tư 39/2016 (dưới 1 năm là ngắn hạn, từ 1 năm trở lên là trung dài hạn) và phân biệt được với khái niệm cho vay theo dự án đầu tư (trung hạn 1-5 năm, dài hạn trên 5 năm) tại khoản 9 Điều 4. Đặc biệt phải thuộc bảng tỷ lệ trích lập dự phòng theo 5 nhóm nợ của Thông tư 02/2023 vì đây là câu hỏi thường xuyên xuất hiện trong các kỳ thi chứng chỉ nghiệp vụ và tuyển dụng ngân hàng. Ngoài ra, cần chú ý quy định về giới hạn cho vay đối với một khách hàng và người có liên quan tại Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, cũng như tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn là 40% theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN đối với ngân hàng thương mại.