Gia hạn nghĩa vụ bảo lãnh ngân hàng là việc ngân hàng bảo lãnh đồng ý kéo dài thời hạn có hiệu lực của cam kết bảo lãnh đã phát hành, nhằm duy trì nghĩa vụ thanh toán hoặc thực hiện cam kết của mình đối với bên thụ hưởng trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là một sửa đổi quan trọng của hợp đồng bảo lãnh, làm thay đổi thời điểm chấm dứt trách nhiệm bảo lãnh của ngân hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên liên quan.
Về bản chất, khi gia hạn, ngân hàng bảo lãnh thay thế cam kết bảo lãnh cũ bằng một cam kết mới có thời hạn dài hơn, đồng thời văn bản gia hạn phải được thông báo chính thức cho bên thụ hưởng để đảm bảo tính hiệu lực. Quyết định gia hạn thường xuất phát từ yêu cầu của bên được bảo lãnh (bên bảo lãnh) khi dự án, hợp đồng kinh tế hoặc nghĩa vụ gốc chưa được hoàn thành đúng thời hạn ban đầu. Trước khi chấp thuận, ngân hàng sẽ đánh giá lại năng lực tài chính của khách hàng, mức độ hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, lịch sử tín dụng và các điều kiện bảo đảm đi kèm. Phí bảo lãnh trong thời gian gia hạn sẽ được tính bổ sung theo mức phí hiện hành, thường dựa trên số tiền bảo lãnh nhân với thời gian gia hạn thực tế và tỷ lệ phí quy định. Ngoài ra, ngân hàng có thể yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo hoặc điều chỉnh các điều khoản cam kết để phù hợp với mức độ rủi ro kéo dài.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, trường hợp phổ biến nhất là gia hạn bảo lãnh thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng, khi nhà thầu chưa hoàn thành công trình đúng tiến độ nên phải xin gia hạn bảo lãnh để chủ đầu tư (bên thụ hưởng) tiếp tục chấp nhận nghiệm thu. Một ví dụ điển hình: Công ty A được Vietcombank phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng trị giá 50 tỷ đồng với thời hạn đến ngày 30/06/2024 cho một dự án xây dựng, nhưng do chậm tiến độ, công ty đề nghị gia hạn đến 31/12/2024. Ngân hàng sau khi thẩm định lại sẽ cấp văn bản sửa đổi bảo lãnh gửi đến bên thụ hưởng, đồng thời thu phí bảo lãnh bổ sung cho khoảng thời gian 6 tháng gia hạn. Tương tự, gia hạn bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hoàn tiền ứng trước hay bảo lãnh dự thầu cũng được các ngân hàng thương mại Việt Nam như BIDV, Agribank, Techcombank xử lý theo quy trình thống nhất.
Về cơ sở pháp lý, hoạt động gia hạn nghĩa vụ bảo lãnh ngân hàng được điều chỉnh chủ yếu bởi Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 335, Điều 460 đến Điều 464 về hợp đồng bảo lãnh và sửa đổi hợp đồng), Thông tư 04/2024/TT-NHNN ngày 31/5/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cấp tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng (thay thế Thông tư 39/2016 và Thông tư 11/2022), cùng các quy định nội bộ của từng ngân hàng thương mại. Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn của Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng liên quan đến việc chuẩn hoá thủ tục và biểu phí bảo lãnh. Khi đề thi liên quan, thí sinh cần lưu ý rằng gia hạn bảo lãnh khác với tái cấp bảo lãnh: gia hạn chỉ làm thay đổi thời hạn hiệu lực mà không thay đổi bản chất cam kết, trong khi tái cấp bảo lãnh có thể liên quan đến việc cấp mới hoàn toàn. Đặc biệt, nếu ngân hàng gia hạn mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên thụ hưởng thì việc gia hạn được coi là không có hiệu lực đối với bên thụ hưởng, và ngân hàng vẫn phải thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng bảo lãnh ban đầu.