Giao dịch với bên liên quan trong lĩnh vực ngân hàng là các giao dịch được thực hiện giữa tổ chức tín dụng với người có liên quan, bao gồm giao dịch tín dụng (cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, tái cấp vốn...), giao dịch đầu tư, giao dịch mua bán tài sản và các giao dịch kinh doanh khác có liên quan. Theo quy định pháp luật, các giao dịch này phải được Hội đồng quản trị hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện và phải tuân thủ các giới hạn an toàn về tỷ lệ so với vốn tự có của tổ chức tín dụng. Đây là công cụ pháp lý quan trọng để phòng ngừa xung đột lợi ích, kiểm soát rủi ro tín dụng tập trung và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, cổ đông thiểu số cùng các bên thứ ba.
Cơ chế hoạt động của các giao dịch với bên liên quan được xây dựng trên nguyên tắc minh bạch, công bằng và bảo đảm không có sự ưu đãi so với giao dịch thông thường trên thị trường. Khi tổ chức tín dụng dự kiến thực hiện giao dịch với người có liên quan, hội đồng quản trị phải tổ chức họp thông qua trước khi ký kết, đồng thời đánh giá tính hợp lý của điều kiện giao dịch (lãi suất, kỳ hạn, tài sản bảo đảm) so với điều kiện thị trường. Pháp luật quy định rõ các giới hạn về tỷ lệ cấp tín dụng đối với một bên liên quan và tổng các bên liên quan tính trên vốn tự có của tổ chức tín dụng. Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, người điều hành có liên quan không được tham gia biểu quyết đối với giao dịch của bên mình. Ngoài ra, các giao dịch này phải được công khai hóa trong báo cáo thường niên và báo cáo tài chính để cơ quan quản lý, cổ đông và công chúng giám sát.
Ví dụ thực tế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam: khi một ngân hàng thương mại cổ phần muốn cho vay đối với công ty con do chính ngân hàng thành lập, giao dịch này phải được Hội đồng quản trị ngân hàng thông qua theo quy trình nội bộ và phải tuân thủ tỷ lệ giới hạn cấp tín dụng đối với bên liên quan. Một trường hợp khác là khi Tổng Giám đốc ngân hàng đề nghị vay vốn từ chính ngân hàng mà mình quản lý để mua bất động sản, giao dịch này cũng cần được Hội đồng quản trị chấp thuận và phải áp dụng lãi suất, điều kiện cho vay như đối với khách hàng thông thường. Thực tiễn cho thấy đã có những vụ vi phạm nghiêm trọng tại một số tổ chức tín dụng khi cấp tín dụng cho bên liên quan vượt quá giới hạn, không qua phê duyệt đúng thẩm quyền, dẫn đến nợ xấu lớn và bị xử lý theo quy định pháp luật.
Về quy định pháp lý, giao dịch với bên liên quan trong lĩnh vực ngân hàng được điều chỉnh chủ yếu bởi Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khái niệm "người có liên quan" được quy định chi tiết tại khoản 15 Điều 2 của Luật này, bao gồm các đối tượng như cha, mẹ, vợ chồng, con, anh chị em ruột của người quản lý, người kiểm soát; các công ty con, công ty liên kết; cổ đông sở hữu từ 5% vốn điều lệ trở lên và các trường hợp khác. Thông tư 36/2014/TT-NHNN và các văn bản sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng và bên liên quan theo tỷ lệ phần trăm trên vốn tự có. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng ban hành các thông tư, quyết định hướng dẫn chi tiết về kiểm soát, giám sát hoạt động cấp tín dụng đối với bên liên quan trong hệ thống ngân hàng.
Lưu ý quan trọng cho người ôn thi ngân hàng: cần nắm vững định nghĩa người có liên quan theo khoản 15 Điều 2 Luật các TCTD 2010, đặc biệt lưu ý các trường hợp mở rộng như doanh nghiệp do người liên quan làm chủ hoặc kiểm soát. Cần phân biệt rõ giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng, một bên liên quan và tổng các bên liên quan, vì đây là các con số khác nhau mà đề thi thường hay "bẫy". Nguyên tắc "người có liên quan không tham gia biểu quyết" và yêu cầu "công khai trong báo cáo tài chính" cũng thường xuyên xuất hiện trong các câu hỏi lý thuyết. Ngoài ra, cần chú ý phân biệt giữa giao dịch với bên liên quan của tổ chức tín dụng với giao dịch nội bộ giữa các công ty trong cùng tập đoàn để tránh nhầm lẫn khi làm bài.