Lừa đảo tín dụng ngân hàng pháp lý là hành vi cố ý sử dụng thủ đoạn gian dối như cung cấp thông tin sai lệch, làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo nhằm chiếm đoạt tiền vay từ tổ chức tín dụng. Hành vi này bị coi là tội phạm nghiêm trọng và bị xử lý theo pháp luật hình sự, đồng thời có thể bị xử phạt hành chính bổ sung theo quy định về hoạt động ngân hàng.
Cơ chế phạm tội thường diễn ra theo các bước cơ bản: đối tượng tạo dựng hồ sơ vay vốn với các thông tin gian dối về thu nhập, tài sản đảm bảo, mục đích sử dụng vốn hoặc giá trị pháp lý của tài sản. Khi hồ sơ được duyệt và giải ngân, đối tượng chiếm đoạt số tiền vay mà không có ý định trả nợ, hoặc chuyển mục đích sử dụng vốn trái với hợp đồng tín dụng. Yếu tố cấu thành tội phạm đòi hỏi phải có lỗi cố ý, có hành vi gian dối cụ thể và đã chiếm đoạt được tài sản của tổ chức tín dụng với giá trị từ ngưỡng nhất định trở lên. Ngoài ra, người thực hiện hành vi phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trường hợp giá trị chiếm đoạt dưới ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu theo các điều luật khác phù hợp.
Ví dụ thực tế trong ngân hàng Việt Nam: Một cá nhân làm giả hợp đồng lao động và sao kê lương để vay tín chấp 500 triệu đồng tại một ngân hàng thương mại cổ phần, sau khi nhận tiền thì tẩu thoát và không thanh toán khoản vay. Trường hợp khác, doanh nghiệp thế chấp một mảnh đất đã được cầm cố tại ngân hàng khác nhưng vẫn làm thủ tục vay vốn lần hai, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tổ chức tín dụng. Những vụ việc này thường được phát hiện qua quá trình thẩm tra hồ sơ, kiểm tra tài sản đảm bảo hoặc khi khoản vay rơi vào nhóm nợ xấu kéo dài. Các ngân hàng khi phát hiện dấu hiệu lừa đảo có trách nhiệm báo cáo cơ quan công an và Ngân hàng Nhà nước để phối hợp xử lý.
Về quy định pháp lý, hành vi lừa đảo tín dụng ngân hàng chủ yếu bị xử lý theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" với mức phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân tùy theo mức độ. Ngoài ra, Điều 175 về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" cũng có thể áp dụng trong một số trường hợp vay vốn dựa trên mối quan hệ tin tưởng. Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực tín dụng còn bị điều chỉnh bởi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024, các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về cho vay và quản lý nợ. Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần phân biệt rõ giữa lừa đảo tín dụng và các hành vi vi phạm khác như trốn thuế, rửa tiền hay vi phạm quy định cho vay của tổ chức tín dụng. Chú ý các yếu tố cấu thành tội phạm gồm: khách thể là quan hệ sở hữu tài sản, khách quan là hành vi gian dối, chủ quan là lỗi cố ý trực tiếp, chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Các tình tiết tăng nặng bao gồm: chiếm đoạt tài sản có giá trị đặc biệt lớn, có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, tái phạm nguy hiểm. Ngưỡng giá trị tài sản để phân loại hình phạt là yếu tố thường xuyên xuất hiện trong các câu hỏi thi nên cần nắm vững.