Xử phạt trốn thuế hình sự là chế tài cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam được áp dụng đối với cá nhân hoặc tổ chức cố tình thực hiện hành vi trốn thuế với giá trị từ 100 triệu đồng trở lên, nhằm răn đe và bảo vệ trật tự quản lý thuế. Đây là biện pháp chuyển từ xử phạt hành chính sang truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi vi phạm đạt đến ngưỡng mà Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 quy định là nghiêm trọng.
Cơ chế áp dụng xử phạt trốn thuế hình sự được kích hoạt khi người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi như: không nộp hồ sơ khai thuế, khai sai số liệu, che giấu doanh thu, lập hóa đơn khống hoặc sử dụng các thủ đoạn gian dối khác để làm giảm nghĩa vụ thuế. Theo quy định hiện hành, mức phạt tù được chia thành nhiều khung tùy theo giá trị tiền trốn thuế: từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng áp dụng hình phạt 1-3 năm tù; từ 500 triệu đến dưới 3 tỷ đồng áp dụng 2-7 năm tù; trên 3 tỷ đồng hoặc có tình tiết tăng nặng có thể bị 5-10 năm tù. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đến 1 tỷ đồng và cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định. Trường hợp gây thiệt hại đặc biệt lớn cho ngân sách nhà nước, cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp khởi tố, bắt tạm giam theo quy trình tố tụng hình sự.
Trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam, nhiều vụ án trốn thuế đã được phát hiện qua kênh giám sát của Ngân hàng Nhà nước và cơ quan thuế khi phân tích dòng tiền bất thường trên tài khoản. Chẳng hạn, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mở tài khoản tại ngân hàng thương mại nhưng không kê khai đầy đủ doanh thu ngoại tệ, hoặc cá nhân kinh doanh chuyển tiền qua nhiều tài khoản để che giấu nguồn thu nhập chịu thuế. Tiêu biểu như vụ án tại Công ty CP Đầu tư Xây dựng Đại Thành năm 2022 bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế với giá trị hàng trăm tỷ đồng, trong đó các giao dịch được thực hiện qua hệ thống ngân hàng đã trở thành chứng cứ quan trọng. Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng phối hợp cung cấp thông tin tài khoản khách hàng khi có yêu cầu từ cơ quan điều tra.
Về cơ sở pháp lý, xử phạt trốn thuế hình sự được quy định rõ tại Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trong đó mô tả các hành vi phạm tội cụ thể và mức hình phạt tương ứng. Bên cạnh đó, Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế là cơ sở phân định ranh giới giữa xử phạt hành chính và xử phạt hình sự. Thông tư 111/2013/TT-BTC và Thông tư 92/2015/TT-BTC hướng dẫn chi tiết về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng liên quan trực tiếp đến việc xác định nghĩa vụ thuế bị trốn.
Đối với người ôn thi ngân hàng, cần ghi nhớ rõ ngưỡng 100 triệu đồng là ranh giới chuyển đổi từ xử phạt hành chính sang trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế theo Điều 200. Đồng thời phân biệt được các khung hình phạt theo giá trị tiền trốn thuế và nắm vững tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nhóm tội phạm có tổ chức, sử dụng công nghệ cao, hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm. Ngoài ra, cần lưu ý mối quan hệ giữa trốn thuế với tội rửa tiền trong hoạt động ngân hàng, bởi các giao dịch tài chính phục vụ hành vi trốn thuế có thể cấu thành tội phạm theo Điều 324 Bộ luật Hình sự 2015 về rửa tiền.